Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung Quốc - Ấn Độ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung Quốc - Ấn Độ. Hiển thị tất cả bài đăng

>> Trung Quốc-Ấn Độ và cuộc chạy đua tàu sân bay ở vành đai Thái Bình Dương


Báo Mỹ cho rằng, Trung-Ấn có thể gây ra chạy đua tàu sân bay ở Thái Bình Dương, xu thế xây dựng lực lượng hàng không trên biển gia tăng.



http://nghiadx.blogspot.com
Tàu sân bay Trung Quốc.

Ngày 4/4, tờ “Tuần san Hàng không” Mỹ có bài viết cho rằng, cách đây không lâu, số lượng những nước sở hữu lực lượng hàng không trên biển còn liên tục giảm xuống. Nhưng, xu thế này hiện lại đảo ngược.

Trung Quốc là một thành viên mới của câu lạc bộ này. Brazil thì đang duy trì vị thế của mình; 10 năm trước, họ đã cho nghỉ hưu một chiếc tàu sân bay do Anh chế tạo từ năm 1945.

Ấn Độ thì đang tăng số lượng tàu sân bay của mình, những nước hiện sử dụng hoặc mua máy bay chiến đấu cất/hạ cánh cự ly ngắn kiểu “Harrier”có thể sẽ mua máy bay tấn công liên hợp F-35B do Công ty Lockheed Martin chế tạo, để tăng khả năng hàng không trên biển của mình.

Tuy nhiên, đại đa số các quốc gia này chỉ mới bắt đầu hoặc còn chưa bắt đầu xây dựng lực lượng hàng không trên biển của mình. Phát triển lực lượng hàng không trên biển đòi hỏi đầu tư tương đối lớn; mua máy bay trang bị cho tàu chiến vốn đã phải đầu tư rất nhiều kinh phí, trừ việc mua máy bay ra, các nước còn phải tiến hành đầu tư rất lớn trên các phương diện khác.

Sự quan tâm của dư luận thường tập trung vào chi phí chế tạo tàu sân bay, nhưng việc đầu tư cho máy bay chiến đấu phiên bản hải quân lại cần nhiều hơn đầu tư chế tạo tàu sân bay.

http://nghiadx.blogspot.com
Biên đội tàu sân bay Ấn Độ.

Hải quân Mỹ có kế hoạch đến năm 2013 chi 967 triệu USD cho chương trình tàu sân bay, chi 6 tỷ USD cho mua máy bay phiên bản hải quân (không bao gồm máy bay chiến đấu F-35B của lực lượng lính thủy đánh bộ).

Còn chi phí dùng để duy trì hoạt động bình thường có thể còn nhiều hơn, những chi phí này bao gồm chi phí huấn luyện, chi phí cho nhân viên và các chi phí cần thiết khác như nhiên liệu, linh kiện và cải tiến máy bay chiến đấu.

Các nước này tin rằng những đầu tư này là đương nhiên, bởi vì tầm quan trọng của thương mại trên biển và tài nguyên ven biển ngày càng tăng. Vấn đề ở chỗ, các thành viên câu lạc bộ tàu sân bay có ý thức được việc chế tạo tàu sân bay chỉ là sự khởi đầu cho một cuộc đầu tư lớn.

Sau khi xây dựng được lực lượng hàng không trên biển, mỗi năm đều phải tiến hành đầu tư tương đối lớn. Rất nhiều nước đều đang chế tạo tàu chiến đổ bộ có thể mang theo máy bay chiến đấu F-35B.

Tàu chiến đổ bộ Canberra và Adelaide của Australia sẽ lần lượt đi vào hoạt động vào năm 2014 và 2015, chúng đã tham khảo thiết kế của tàu Juan Carlos I.

Chúng thậm chí có đường băng kiểu nhảy cầu, điều này rất quan trọng đối với tiến hành hoạt động cất/hạ cánh thẳng đứng/cự ly ngắn, nhưng lúc khác có thể xuất hiện một số vấn đề. Bởi vì, đường băng kiểu sườn dốc không thể dùng để đặt các trang bị khác.

http://nghiadx.blogspot.com
Máy bay chiến đấu tàng hình F-35B phiên bản hải quân.

Trung Quốc và Ấn Độ có thể sẽ gây ra một cuộc “chạy đua tàu sân bay” ở khu vực vành đai Thái Bình Dương, có được tàu chiến tác dụng kép (như tàu chiến đổ bộ cỡ lớn có thể mang theo máy bay chiến đấu) cần kinh phí tương đối ít, cũng có tính nhạy cảm chính trị và chiến lược tương đối ít; nhưng, nếu trang bị máy bay chiến đấu tàng hình, sẽ có sức chiến đấu rất mạnh.

Vấn đề ở chỗ, rốt cuộc có bao nhiêu nước sẽ mua máy bay chiến đấu F-35B để trang bị cho tàu chiến đổ bộ của mình? Tàu chiến đổ bộ chủ yếu là để thực hiện nhiều nhiệm vụ, vì vậy nó còn phải mang theo tàu đổ bộ, máy bay trực thăng, binh sĩ, xe bọc thép, trung tâm chỉ huy và các nhân viên. Cho dù là tàu chiến có lượng choán nước tới 30.000 tấn, không gian của nó cũng rất có hạn.

So với tàu sân bay thực sự, đường băng của tàu chiến đổ bộ tương đối hẹp, điều này đã hạn chế không gian có thể dùng cho hoạt động bay; một nhân tố quan trọng khác là chi phí mua và sử dụng F-35B còn chưa xác định.

http://nghiadx.blogspot.com
Tàu vận tải đổ bộ Côn Lôn Sơn của Hạm đội Nam Hải-Hải quân Trung Quốc.

>> Đánh giá mạnh yếu của Ấn Độ qua lời tướng TQ


Năm 2012, chi phí quân sự của Ấn Độ sẽ tăng 17% và đạt 1,93 ngàn tỷ rupi, tức gần 38,6 tỷ USD.

Hãng tin “Tiếng nói Trung Quốc” đưa tin, trong năm tới, chi phí quân sự của Ấn Độ sẽ tăng 17% và đạt 1,93 ngàn tỷ rupi, tức gần 38,6 tỷ USD. Nhưng kể có tăng như các nguồn tin quân sự Ấn Độ loan tin thì cũng không đủ để thỏa mãn các nhu cầu của quân đội nước này.

Dưới đây là bình luận của cục trưởng cục công nghệ thông tin quân đội Trung Quốc, thiếu tướng Yin Zhuo về vấn đề này.





http://nghiadx.blogspot.com
Ấn Độ tăng mạnh chi phí quốc phòng để đối phó với Trung Quốc và Pakistan


Tướng Yin cho rằng, chi phí quân sự Ấn Độ tăng nhanh là do hai nguyên nhân.

Một là nhờ sự tăng trưởng kinh tế của nước này. Trong 10 năm gần đây, kinh tế Ấn Độ tăng trưởng nhanh mặc dù hơi chậm lại vào năm 2011. Xét về tổng GDP, Ấn Độ có khả năng vượt qua Anh và Pháp.

Hai là Ấn Độ có “những ước mơ lớn”. Gần đây, nước này có những nỗ lực to lớn để trở thành ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an LHQ. Quy chế này đặt ra những yêu cầu cao: cần phải có vị thế ngoại giao và kinh tế cao, cụ thể là nước này phải có tiềm lực quân sự tương ứng để duy trì vị thế đại cường. Được Ấn Độ liệt vào số các nhiệm vụ cục bộ là duy trì ưu thế quân sự với Pakistan.

Những yếu tố đó đã dẫn tới việc trong 10 năm qua, Ấn Độ đã tăng gấp đôi chi phí quân sự của mình.

Để tăng cường tiềm lực quân sự, Ấn Độ cố gắng mua thật nhiều vũ khí trang bị hiện đại từ nước ngoài. Theo số liệu của Viện Nghiên cứu hòa bình Stockholm, từ năm 2006, Ấn Độ đã trở thành nước nhập khẩu vũ khí trang bị lớn nhất thế giới.

Ông Yin Zhuo đánh giá, số lượng lớn vũ khí trang bị mua từ nước ngoài có thể nâng cao sức mạnh quân sự Ấn Độ trong tương lai ngắn hạn, nhưng trong tương lai dài hạn, Ấn Độ sẽ buộc phải phát triển tích cực hơn công nghiệp quốc phòng của mình nếu không muốn vấp phải “vòng luẩn quẩn bất tận của những điều khó chịu”.

Ấn Độ đang cố “đi tắt”. Bằng cách mua sắm vũ khí trang bị nước ngoài, nước này đang nỗ lực xây dựng công nghiệp quốc phòng hiện đại. Ví dụ, với sự hỗ trợ của các công nghệ nước ngoài, Ấn Độ đang đóng các tàu sân bay, tàu chiến mặt nước cỡ lớn và tàu ngầm. Việc tự lực phát triển các loại vũ khí chủ yếu có thể mất trung bình 15 năm, còn phát triển các loại vũ khí trang bị công nghệ cao như máy bay tiêm kích và tàu ngầm có thể mất 20 năm hoặc lâu hơn. Vì vậy, Ấn Độ đang cố gắng mua sắm các vũ khí trang bị hiện đại và trang bị thật nhanh cho quân đội của họ.

Ở các lĩnh vực như máy bay chỉ huy/báo động sớm, máy bay tuần tra chống ngầm, máy bay tác chiến điện tử, Ấn Độ dựa vào mua sắm các phương tiện hiện đại của nước ngoài, điều này có thể giúp Ấn Độ có sự đột phá lớn trong lĩnh vực các hệ thống thông tin quân sự. Đây là mặt tốt của “đi tắt”.

Bên cạnh đó, một nước lớn như Ấn Độ đòi hỏi nhiều vũ khí trang bị hơn, điều không thể thỏa mãn chỉ bằng cách mua sắm từ nước ngoài. Ngoài ra, cũng có nguy cơ trở thành “con tin của phụ tùng nước ngoài”, điều có thể có hậu quả chết người một khi xảy ra chiến tranh. Trong cuộc chiến với Pakistan, Ấn Độ đã từng nếm trái đắng từ việc phong tỏa của nước ngoài (cấm vận vũ khí).

Là một nước đang khát khao trở thành ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an LHQ, Ấn Độ phải có nền công nghiệp quốc phòng phát triển mạnh. Nhưng vấn đề là ở chỗ nền kinh tế Ấn Độ phát triển mất cân đối. Chẳng hạn, công nghiệp phần mềm máy tính của họ đang phát triển nhanh, nhưng các ngành công nghiệp truyền thống thì tụt hậu. Cụ thể, Ấn Độ đang tụt hậu về sản xuất thép kỹ thuật và các hợp kim đặc biệt, các cơ sở sản xuất hàm lượng khoa học cao yếu ớt, thiếu kỹ sư và công nhân tay nghề cao, điều có tầm quan trọng sống còn để xây dựng một tổ hợp công nghiệp quốc phòng mạnh. Vì vậy, việc phát triển các hệ thống vũ khí lớn công nghệ cao diễn ra cực kỳ khó khăn.

Sai lầm của Ấn Độ là trong một thời gian dài, nước này giống như một nước nhỏ và trung bình đã dựa vào việc mua sắm vũ khí nước ngoài, nên khi họ muốn trở thành “nước lớn” thì sự kém phát triển của công nghiệp quốc phòng của họ đã gây ra “những khó khăn bất tận”, tướng Yin Zhuo kết luận.
Tướng Doãn Trác :  Ấn Độ phụ thuộc vào mua vũ khí sẽ vỡ mộng nước lớn

Trong điều kiện chiến tranh, chỉ cần một lời nói gây bất hòa hoặc ý thức chính trị mâu thuẫn, lập tức tiến hành phong tỏa công nghệ, bao gồm phụ thùng thay thế. Khi đó, những trang bị chủ yếu được nhập khẩu này đều trở thành đống sắt vụn, cơ bản không thể sử dụng.

http://nghiadx.blogspot.com
Máy bay chiến đấu Su-30MKI của Không quân Ấn Độ, do Nga chế tạo.


Tờ “Phương Đông” dẫn các nguồn tin cho biết, gần đây Chính phủ Ấn Độ tuyên bố, trong năm tài chính tiếp theo, chi tiêu quân sự của Ấn Độ sẽ tăng 17%, lên tới 1.930 tỷ rupee, khoảng 38,6 tỷ USD. Nguồn tin từ Quân đội Ấn Độ cho biết, tốc độ tăng như vậy không thể đáp ứng nhu cầu của Quân đội Ấn Độ.

Như vậy, nhu cầu nội tại để Ấn Độ duy trì tăng trưởng chi tiêu quân sự cao đến từ đâu? Những vũ khí trang bị được Ấn Độ nhập khẩu từ nhiều nước sẽ phát huy hiệu quả như thế nào trong chiến đấu thực tế? Về vấn đề này, nhà quan sát quân sự, Chủ nhiệm Ủy ban Tư vấn Thông tin hóa – Hải quân Trung Quốc, Thiếu tướng Doãn Trác đã có bài trả lời phỏng vấn báo chí.

Có vật chất là có giấc mơ, Ấn Độ tăng lớn chi tiêu quân sự trong mười mấy năm

Những năm gần đây, Ấn Độ đã duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối nhanh, từ đó duy trì tăng trưởng chi tiêu quân sự cao, đã có được nền tảng vật chất.

Đồng thời, Ấn Độ - nước luôn có “mộng nước lớn” lấy phát triển sức mạnh quân sự làm một phương diện quan trọng để nâng đỡ cho vị thế nước lớn của họ.

Doãn Trác cho rằng, sự tăng trưởng nhanh chóng về chi tiêu quốc phòng của Ấn Độ trong mấy năm qua chủ yếu dựa trên nguyên nhân trên 2 phương diện:

Thứ nhất, nền tảng vật chất. Nền kinh tế Ấn Độ về cơ bản có triển vọng tốt đẹp, mặc dù năm 2011 phát triển có giảm chút ít, nhưng trước đây về cơ bản đã duy trì được giai đoạn tăng trưởng tốc độ cao 10 năm. Sức mạnh kinh tế Ấn Độ đang mở rộng nhanh chóng, GDP hiện nay đã vươn lên khoảng vị trí thứ 7 của thế giới, có thể vượt Anh, Pháp.

Chi tiêu dùng cho lĩnh vực quốc phòng của Ấn Độ có thể nhiều hơn nữa. Cho nên, đây là nền tảng vật chất để Ấn Độ duy trì tốc độ tăng trưởng tương đối cao về chi tiêu quân sự.

http://nghiadx.blogspot.com
Máy bay chiến đấu của Không quân Ấn Độ.

Thứ hai, giấc mộng nước lớn. Từ thời kỳ Nehru đã từng đề xuất, Ấn Độ hoặc là một quốc gia rất xuất sắc trên thế giới, hoặc là một nước không ai biết đến.

Những năm gần đây, Ấn Độ tìm cách trở thành thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an, có các động thái rất mạnh.

Muốn trở thành thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an, phải có vị thế ngoại giao, kinh tế tương ứng, đặc biệt là phải có vị thế quân sự, sức mạnh quốc phòng để nâng đỡ cho vị thế nước lớn.

Đồng thời, Ấn Độ cơ bản ở trong một trạng thái sức ép cao ở toàn bộ khu vực Nam Á, trong đó có Ấn Độ Dương và các nước láng giềng.

Muốn ra sức mở rộng khoảng cách về quân sự với các nước xung quanh, đặc biệt là Pakistan, đây là một tư tưởng chỉ đạo quan trọng của quốc phòng-an ninh Ấn Độ.

Vì vậy, sự kết hợp giữa giá đỡ vật chất (có được tự nền tảng kinh tế) và giấc mộng nước lớn, làm cho chi tiêu quân sự của Ấn Độ mười mấy năm qua luôn duy trì tăng trưởng hai con số.

Phương Đông Báo: Vũ khí trang bị của Ấn Độ “đi đường tắt” thực ra cực kỳ có hại?

Cùng với việc mở rộng quy mô của nền kinh tế, Ấn Độ muốn thông qua mua sắm vũ khí trang bị tiên tiến để đạt mục tiêu nhanh chóng thực hiện hiện đại hóa vũ khí trang bị, trở thành cường quốc quân sự trên thế giới.

Theo báo cáo của Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm Thụy Điển, từ năm 2006 Ấn Độ luôn là nước nhập khẩu vũ khí trang bị lớn nhất thế giới.


http://nghiadx.blogspot.com
Tàu sân bay Gorshkov đang được Nga cải tạo cho Ấn Độ.


Doãn Trác cho rằng, Ấn Độ thông qua phương thức mua sắm lượng lớn vũ khí trang bị của nước ngoài để tăng cường sức mạnh quân sự, nhìn vào ngắn hạn, sức mạnh kinh tế có thể nhanh chóng chuyển hóa thành sức mạnh quốc phòng, nhưng nhìn về dài hạn, sẽ có hại vô cùng.
Ấn Độ đã áp dụng biện pháp “đi đường tắt”. Những nước vừa và nhỏ bình thường áp dụng biện pháp “đi đường tắt”, bởi vì trong tình hình hệ thống công nghiệp chế tạo, hệ thống công nghiệp quốc phòng không hoàn chỉnh, không thể tiến hành tự nghiên cứu phát triển và chế tạo những vũ khí tác chiến chủ yếu cỡ lớn, buộc phải mua của nước ngoài.

Ấn Độ chủ yếu đã áp dụng phương thức phát triển của các nước vừa và nhỏ, chẳng hạn, tàu chiến, tàu ngầm hạt nhân, tàu sân bay về cơ bản đều mua của nước ngoài.

Đi con đường này có một cái hay là trong vài năm sức mạnh quốc phòng của họ có thể có một bước tiến mới, tức là sức mạnh kinh tế có thể thông qua “đi đường tắt” chuyển hóa tương đối nhanh chóng thành sức mạnh quốc phòng.

Nếu là mua vũ khí tác chiến mới của nước ngoài, trải qua 5 – 7 năm huấn luyện và nội địa hóa một bộ phận linh kiện là có thể trang bị cho quân đội. Trong 5 – 7 năm, sức mạnh kinh tế lập tức chuyển hóa thành sức mạnh quốc phòng, chuyển hóa thành ưu thế trên chiến trường, điều này rất quan trọng đối với Ấn Độ.


http://nghiadx.blogspot.com

Ấn Độ mua máy bay tuần tra chống tàu ngầm P-8I Poseidon của Mỹ.


Trong lĩnh vực thông tin hóa, chẳng hạn như máy bay cảnh báo sớm, máy bay tuần tra chống tàu ngầm, máy bay tác chiến điện tử, về cơ bản đều là mua của nước ngoài. Như vậy sẽ có thể giúp cho trình độ thông tin hóa có một bước tiến lớn.

Đây là một mặt tốt của “đi đường tắt”

Tuy nhiên, đối với một nước lớn, cần lượng trang bị tương đối lớn, không thể luôn mua của nước ngoài. Bởi vì, phải mua trang bị của nước ngoài, bạn lại muốn làm một nước lớn, vị thế không thể được bảo đảm.

Trong điều kiện chiến tranh, chỉ cần một lời nói gây bất hòa hoặc ý thức chính trị mâu thuẫn, lập tức tiến hành phong tỏa công nghệ, bao gồm phụ thùng thay thế. Khi đó, những trang bị chủ yếu được nhập khẩu này đều trở thành đống sắt vụn, cơ bản không thể sử dụng.

Trong cuộc chiến tranh với Pakistan, Ấn Độ từng nếm phải quả đắng phong tỏa của nước ngoài.

Là một nước lớn, muốn trở thành thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an, phải xây dựng được hệ thống công nghiệp quốc phòng của mình. Muốn xây dựng hệ thống công nghiệp quốc phòng thì phải có hệ thống công nghiệp, hệ thống ngành chế tạo hoàn chỉnh.


http://nghiadx.blogspot.com
 Máy bay cảnh báo sớm AWACS của Không quân Ấn Độ, mua của Israel.


Sự phát triển kinh tế của Ấn Độ hoàn toàn không cân bằng. Sự phát triển ngành công nghiệp phần mềm máy tính của họ tương đối nhanh, thu nhập từ thương mại nước ngoài cũng tương đối cao.

Nhưng ngành chế tạo tương đối không hoàn chỉnh, thép vật liệu thì có thể, nhưng thép có tính năng cao dùng cho công nghiệp quốc phòng và vật liệu đặc biệt cần cho ngành chế tạo cao cấp, bao gồm các năng lực cần thiết, hạ tầng cơ sở, kỹ sư và công nhân cũng rất thiếu thốn, đồng thời chưa xây dựng được hệ thống ngành chế tạo hoàn chỉnh, như vậy sẽ không thể nâng đỡ được hệ thống công nghiệp độc lập.
Vì vậy, muốn nghiên cứu chế tạo ra các loại vũ khí trang bị cỡ lớn cũng rất khó khăn.

Điều này có liên quan đến sai lầm trong hoạch định chính sách của Chính phủ Ấn Độ, đánh đồng mình với các nước vừa và nhỏ, không phải nhìn với tư các một nước lớn. Là một nước lớn, đi con đường này, về lâu dài sẽ rất có hại.

>> Không quân Trung Quốc - Pakistan gộp lại cũng khó địch nổi Ấn Độ


Trong cuộc đối đầu với Ấn Độ có thể xảy ra, Không quân Trung Quốc có nhiều hạn chế về thế hệ máy bay, khoảng cách địa lý và yếu tố địa hình...

Ngày 7/3, tờ “Bình luận Quốc phòng Ấn Độ” có bài viết cho rằng, mặc dù số lượng máy bay chiến đấu của Không quân Trung Quốc đã tăng lên khoảng 1687 chiếc, nhưng những máy bay chiến đấu này phần lớn là máy bay chiến đấu thế hệ thứ hai và thứ ba, hơn nữa những máy bay chiến đấu này cơ bản không có kinh nghiệm chiến đấu thực tế, trừ việc tham gia cuộc diễn tập chung giữa Trung Quốc-Thổ Nhĩ Kỳ.

Điều quan trọng hơn là, về phương diện tác chiến đối với Ấn Độ, do biên giới Trung-Ấn cách các căn cứ bên trong nội địa tương đối xa, cộng với lượng tải đạn hiệu quả của máy bay chiến đấu rất có hạn khi hoạt động tại các sân bay ở Tây Tạng, khu vực có độ cao lớn so với mặt nước biển, cho nên khả năng tấn công thực tế của chúng có hạn.


http://nghiadx.blogspot.com
Máy bay chiến đấu J-7 của Trung Quốc.


Bài viết cho rằng, trong thời gian chưa đến 20 năm, sức mạnh của Không quân Trung Quốc đã có sự phát triển nhanh chóng, vượt xa so với trình độ thập niên 1980.

Hơn nữa, khác với dự đoán của phương Tây, Trung Quốc sử dụng khéo léo các ảnh hưởng từ kinh tế và ngoại giao của họ, cải cách Không quân Trung Quốc thành một lực lượng không quân hiện đại.

Trung Quốc không chỉ chú trọng đến máy bay chiến đấu, mà còn nghiên cứu phát triển, chế tạo và nỗ lực sao chép thiết kế của nhiều loại vũ khí và tên lửa phóng từ máy bay, thiết kế của máy bay vận tải, máy bay trực thăng và máy bay không người lái/máy bay chiến đấu không người lái… mua từ Nga và các nước khác.

Trung Quốc có nguồn vốn đầy đủ, có thể giành được bất cứ vũ khí nào mà họ muốn có từ Nga. Tuy nhiên, những nỗ lực của Trung Quốc nhằm chế tạo động cơ phản lực AL-31F (cho máy bay chiến đấu Su-30) tại nước mình vẫn chưa thành công.

Song, phần lớn các nhà quan sát Trung Quốc đều tin rằng, công việc này có thể sẽ giành được thành công trong vài năm nữa. Khi đó, Trung Quốc sẽ trở thành một trong những nước tiên tiến có thể chế tạo động cơ phản lực hiện đại.

http://nghiadx.blogspot.com
Máy bay vận tải Y-8 của Trung Quốc.


Theo bài báo, ngoài ra, Trung Quốc đã cải tạo thành công máy bay vận tải An-12 (Y-8) thành một loại máy bay kiểm soát và cảnh báo sớm trên không (AEW&C), đã lắp thêm động cơ mạnh hơn, cánh quạt mới và thiết bị điện tử hàng không hiện đại. Trung Quốc cũng đã tự sản xuất một loại máy bay trực thăng vũ trang – WZ-10.

Ngoài ra, Trung Quốc sở hữu khoảng 100 máy bay ném bom H-6, máy bay này đã cải tạo trên nền tảng máy bay ném bom Tu-6 kiểu cũ thập niên 1950, được lắp động cơ D-30KP mạnh hơn do Nga chế tạo. Hiện nay, H-6 được dùng để tiến hành tiếp dầu trên không, trinh sát điện tử và phóng tên lửa hành trình chống hạm trong tình hình có mối đe dọa.

Trung Quốc cũng đã bay thử máy bay chiến đấu tàng hình thế hệ thứ năm J-20, đồng thời tin là có thể trang bị máy bay chiến đấu này trong vòng 10 năm tới.

Sức chiến đấu của Không quân Trung Quốc bị hạn chế do độ cao so với mặt biển và khoảng cách

Báo cáo “Cân bằng sức mạnh quân sự 2011” mới nhất của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế Anh (IISS) cho biết, số lượng máy bay chiến đấu của Không quân Trung Quốc từ 1653 chiếc năm 2010 tăng lên khoảng 1687 chiếc.

Hiện nay, công nghiệp hàng không Trung Quốc có khả năng mỗi năm sản xuất 40-50 máy bay chiến đấu hiện đại. Hơn nữa, Trung Quốc cũng đã giảm nhiều sự phụ thuộc vào sự hỗ trợ công nghệ của Nga.

http://nghiadx.blogspot.com
Máy bay ném bom H-6H của Trung Quốc.


Nhưng, Không quân Trung Quốc hầu như không có kinh nghiệm tác chiến, hơn nữa ngoài việc cử vài chiếc máy bay tham gia cuộc diễn tập không quân với Thổ Nhĩ Kỳ năm 2011, Không quân Trung Quốc chưa từng tổ chức tập trận với không quân các nước khác.

Nếu coi chủng loại và kiểu cỡ (liên quan đến vũ khí, đặc biệt là tên lửa hành trình, máy bay không người lái, máy bay chiến đấu không người lái) và hệ thống trong không gian (như hệ thống định vị toàn cầu/hệ thống vệ tinh dẫn đường toàn cầu GLONASS, vệ tinh do thám) là một biểu tượng, thì tình hình cho thấy, Không quân Trung Quốc tuyệt đối không thua kém không quân các nước khác trên phương diện yếu lĩnh thông hiểu cách sử dụng lực lượng không quân hiện đại.

Tuy nhiên, 1687 máy bay chiến đấu này phần lớn là máy bay chiến đấu thế hệ thứ hai và thứ ba. Ngoài khoảng 144 máy bay J-10, 243 máy bay Su-27/30 và 72 máy bay JH-7A, còn lại đều là máy bay chiến đấu J-7, J-8 thế hệ cũ.

http://nghiadx.blogspot.com
Máy bay chiến đấu JH-7A của Trung Quốc.

Ngoài ra, liên đội hàng không của Hải quân Trung Quốc sở hữu khoảng 311 máy bay chiến đấu, trong đó bao gồm 24 máy bay chiến đấu Su-30 Flanker và 84 máy bay ném bom chiến đấu JH-7, còn lại là máy bay phiên bản thay đổi của J-7 và J-8.

Có khoảng 15 máy bay chiến đấu J-15 (phiên bản Trung Quốc của máy bay chiến đấu Su-33) sẽ được triển khai cho tàu sân bay Varyag của Hải quân Trung Quốc.

Mặc dù Không quân và Hải quân Trung Quốc có số lượng máy bay chiến đấu thế hệ thứ ba tương đối lớn, thậm chí máy bay chiến đấu tiên tiến có số lượng nhiều hơn một chút, nhưng những máy bay chiến đấu này có được dùng để thực hiện nhiệm vụ truyền thống hay không vẫn còn chưa biết.

Xét thấy quan điểm “không đánh mà khuất phục được người khác” của “Binh pháp Tôn Tử” có sức ảnh hưởng rất lớn, vị thế chủ đạo của Lục quân Trung Quốc và kinh nghiệm tác chiến tương đối có hạn của Không quân Trung Quốc, việc dựa dẫm của tầng lớp lãnh đạo Trung Quốc vào lực lượng tên lửa của nước này có thể sẽ cao hơn mức bình thường.

Những vũ khí có số lượng rất nhiều này có thể sẽ được dùng cho giai đoạn bắt đầu của cuộc xung đột biên giới, qua đó truyền đi quyết định chính trị của Trung Quốc và duy trì tiêu hao mức độ thấp.

http://nghiadx.blogspot.com
J-10 Trung Quốc.


Do yếu tố địa hình, cách các sân bay ở Tứ Xuyên và Vân Nam rất xa (khoảng cách từ nam Tây Tạng đến Thành Đô – Tứ Xuyên và Côn Minh – Vân Nam là 1.600 – 1.800 km), hơn nữa do tác động của độ cao so với mặt nước biển của các sân bay ở Tây Tạng, cho nên các hoạt động tác chiến của máy bay chiến đấu cất cánh từ sân bay Tây Tạng bị hạn chế. Điều này có thể sẽ buộc Trung Quốc phụ thuộc vào tên lửa thông thường.

Ngoài ra, khi máy bay Trung Quốc ngắm chuẩn các mục tiêu trong biên giới của Ấn Độ, việc thông qua không phận của Myanmar và Bangladesh cũng có vấn đề.

Nhìn vào khoảng cách thẳng tắp, thành phố Mandalay của Myanmar cách Calcutta 805 km, cách Tawang 821 km, cách Chennai 1.913 km. Hơn nữa, căn cứ ở đảo Great Coco của Myanmar chỉ có một đường băng dài 1.300 m, ở đây cách cảng Blair của Ấn Độ chỉ 284 km.

Khả năng vận tải và tiếp nhiên liệu của Không quân Trung Quốc có hạn

Bài viết cho rằng, điều này phải chăng có nghĩa là Không quân Ấn Độ không thể chống lại được đối thủ được xem là mạnh này, bảo vệ không phận của Ấn Độ? Câu trả lời là phủ định. Như đã nói ở trên, do biên giới Trung-Ấn cách các căn cứ trong nội địa tương đối xa, cộng thêm lượng tải đạn của máy bay chiến đấu bị hạn chế nghiêm trọng ở các sân bay ở Tây Tạng - khu vực có độ cao so với mặt nước biển lớn, vì vậy khả năng tấn công thực tế có hạn.

http://nghiadx.blogspot.com
Máy bay chiến đấu J-11 của Trung Quốc.

Không quân Trung Quốc có vài chiếc máy bay vận tải IL-76 và 10 chiếc máy bay tiếp dầu Tu-160 được tân trang. Nhưng, hiệu suất, tình hình huấn luyện và khả năng sử dụng của những máy bay này vẫn không được chắc chắn lắm.

Nếu Hải quân Trung Quốc và Ấn Độ xảy ra xung đột, Không quân Ấn Độ có thể sẽ nhận lệnh tham chiến. Xét tới hành trình của máy bay, Không quân Ấn Độ sẽ buộc phải điều động biên đội máy bay chiến đấu Su-30 có sự hỗ trợ của máy bay tiếp dầu trên không (FRA).

Theo bài báo, biên đội máy bay tiếp dầu của Không quân Trung Quốc có quy mô không đủ, huấn luyện cũng thiếu, không thể bù đắp cho những hạn chế khi hoạt động ở các sân bay có độ cao so với mặt nước biển lớn. Ngoài ra, các sân bay ở Tây Tạng rất dễ trở thành mục tiêu của Không quân Ấn Độ, vì vậy rất dễ bị tấn công.

Hiện nay, Không quân Ấn Độ có lượng máy bay chiến đấu khổng lồ và lượng nhỏ tên lửa thông thường lớp Prithvi. Biên đội máy bay chiến đấu Su-30MKI ở miền đông Ấn Độ đang từng bước cải tiến, cộng với máy bay Mirage 2000 và MiG-20, Ấn Độ có thể chống lại sự tấn công của bất cứ lực lượng nào của Không quân Trung Quốc đóng tại Ladakh và miền nam Tây Tạng.

Một khi biên đội máy bay chiến đấu Su-30MKI có đầy đủ sức mạnh, cộng với 126 máy bay chiến đấu đa dụng hạng trung và 40 máy bay chiến đấu hạng nhẹ Tejas được Không quân Ấn Độ nhập khẩu trong tương lai, tình hình của Ấn Độ chắc chắn sẽ được cải thiện. Đến năm 2020, Không quân Ấn Độ sẽ còn có triển vọng có được máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm do Ấn-Nga hợp tác nghiên cứu chế tạo.

http://nghiadx.blogspot.com
Máy bay chiến đấu tàng hình J-20


Bài báo viết, trước đây, Ấn Độ không hy vọng lắm vào việc triển khai lực lượng không quân mang tính tấn công. Ví dụ, trong thời gian chiến tranh Trung-Ấn năm 1962, do sợ chiến sự leo thang, Ấn Độ không sử dụng lực lượng tác chiến của Không quân, cuối cùng đã bị thất bại.

Sau 37 năm, trong cuộc xung đột Kargil năm 1999, việc sử dụng Không quân Ấn Độ lạc hậu, hơn nữa do lo ngại chiến sự leo thang, hành động của Ấn Độ đã bị hạn chế. Vì vậy, lãnh đạo quân đội và chính trị Ấn Độ cần thiết phải chuẩn bị tốt cho việc thể hiện quyết tâm của Ấn Độ. Không có điều này, bất cứ vũ khí trang bị đắt giá nào đều vô ích.

Bài báo cho rằng, nếu Không quân Pakistan và Không quân Trung Quốc hợp tác phát động tấn công, chiến tuyến phân bổ các nguồn lực của Không quân Ấn Độ chắc chắn sẽ kéo dài. Nhưng, cho dù trong tình hình đó, Không quân Trung Quốc-Pakistan muốn giành được chiến thắng cũng không dễ dàng.

Khả năng Trung Quốc-Pakistan triển khai tấn công đồng bộ và phối hợp là rất nhỏ, nhưng Ấn Độ chắc chắn chuẩn bị tốt cho tình huống này.

Xuất phát từ các nguyên nhân, hiện nay Trung Quốc và Ấn Độ đều không thể triển khai một cuộc chiến tranh thông thường quy mô lớn.

Thứ nhất, mặc dù đối mặt với tình hình ngày càng tự tin của Pakistan, Ấn Độ cũng luôn tránh sử dụng vũ lực.

Thứ hai, đối với Trung Quốc, do gần đây Mỹ tái khẳng định lợi ích của họ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, cho nên tầm quan trọng chiến lược của Đài Loan và tranh chấp biển Đông phải lớn hơn nhiều.

Thứ ba, Trung Quốc không còn là quốc gia bị cô lập như thời kỳ đầu Chiến tranh Lạnh. Hiện nay, Trung Quốc là một nước lớn kinh tế quan trọng, có lợi ích thương mại ở các khu vực trên thế giới, chắc chắn phải duy trì hình tượng một nước lớn có trách nhiệm.

Thứ tư, việc nhập khẩu năng lượng và xuất khẩu của Trung Quốc phụ thuộc vào tuyến đường vận tải trên biển (đặc biệt là tuyến đường ở eo biển Malacca), đã làm hạn chế sự lựa chọn chiến lược của bản thân Trung Quốc.

Tuy nhiên, hiện nay hoàn toàn không thể loại trừ khả năng xảy ra xung đột nhỏ cục bộ ở biên giới Trung-Ấn do sự hiểu ngầm về tình hình như “Tuyến kiểm soát thực tế”.

Vì vậy, Ấn Độ cần lập tức đưa ra phản ứng quân sự/ngoại giao thận trọng, hạn chế thời gian và quy mô của cuộc xung đột nhỏ này. Đồng thời, Không quân Ấn Độ còn phải toàn lực tăng cường khả năng tự thân, đáp trả có hiệu quả và nhanh chóng đối với các đợt tấn công của Không quân Trung Quốc.

http://nghiadx.blogspot.com
Tên lửa đất đối đất chiến thuật Prithvi của Ấn Độ.


Tương lai có thể nổ ra xung đột mang tính khu vực

Bài báo cho rằng, tháng 8/2009, Tham mưu trưởng Hải quân Ấn Độ, Thượng tướng Sureesh Mehta nói rằng, Ấn Độ không tiến hành “đối kháng sức mạnh” với Trung Quốc, đề nghị Ấn Độ áp dụng phương án giải quyết có hàm lượng công nghệ hơn để ứng phó với các mối đe dọa, không nên chống lại nước đang trỗi dậy Trung Quốc.

Tháng 7/2011, Tham mưu trưởng Không quân Ấn Độ, Trung tướng PV Naik cho rằng, quy mô của Không quân Trung Quốc gấp 3 lần Không quân Ấn Độ.

Những quan điểm này có sự khác biệt rất lớn so với quan điểm của các quan chức quân sự Ấn Độ trong thời gian 1960-1691. Đến nay, Ấn Độ và Trung Quốc đều đã khác trước rất nhiều. Tuy Trung Quốc có thái độ cứng rắn, nhưng sử dụng vũ lực thực tế lại là một chuyện khác. Hơn nữa, cho dù hành động phòng thủ, sẵn sàng chiến đấu của Ấn Độ có chậm chạp thì cũng không còn bị động nữa.

http://nghiadx.blogspot.com
Máy bay chiến đấu Mirage 2000-5 do Pháp sản xuất. Ấn Độ sở hữu loại máy bay này.


Bài báo viết, hiện nay, Không quân Ấn Độ đang chế tạo radar có thể mang theo hạng nhẹ, cải thiện hạ tầng cơ sở sân bay, trang bị máy bay chiến đấu mới/máy bay không người lái/máy bay chiến đấu không người lái, hơn nữa hệ thống kiểm soát và cảnh báo trên không mang theo trên máy bay và máy bay tiếp dầu trên không đã tăng cường rất lớn sức mạnh trên không.

Điều không may là, tất cả những vũ khí trang bị này đều mua từ nước ngoài. Công nghiệp quốc phòng chiến lược của Trung Quốc đã giành được tiến bộ kinh ngạc, nhanh chóng bước vào hàng ngũ những nước sản xuất và xuất khẩu vũ khí chính. Tuy kinh tế Ấn Độ cũng đang tăng lên, nhưng khoảng cách sức mạnh với Trung Quốc vẫn luôn nới rộng.

Cuối cùng, mặc dù Trung Quốc và Ấn Độ là láng giềng, điều may mắn là, Quân đội hai nước hiện vừa không xảy ra xung đột, vừa không triển khai cạnh tranh. Yếu tố địa lý vẫn sẽ phát huy vai trò quan trọng, hơn nữa có thể sẽ tạo ra xung đột trong tương lai, nhưng có thể chỉ là mang tính khu vực.

http://nghiadx.blogspot.com
Máy bay chiến đấu hạng nhẹ Tejas (LCA) do Ấn Độ tự sản xuất, do Cục Phát triển Hàng không Ấn Độ (Aeronautical Development Agency) phụ trách nghiên cứu phát triển. Tejas bay thử có tốc độ Ma1. 1, bay ở độ cao 11.000 m.