Hiển thị các bài đăng có nhãn Quân đội Israel. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quân đội Israel. Hiển thị tất cả bài đăng

>> Hồ sơ xuất khẩu vũ khí của Israel (Kỳ 1)

Israel là một nhà nước trẻ (thành lập năm 1948), một nước nhỏ (chỉ có 20.770 km2) và dân số ít (khoảng 7 triệu người) nhưng lại là nước có quân đội mạnh nhất Trung Đông và là một trong những lực lượng quân sự được trang bị và huấn luyện tốt nhất thế giới.

Đồng thời cũng là quân đội tiến hành (hoặc buộc phải tiến hành) nhiều cuộc chiến tranh nhất kể từ khi lập quốc tới nay và luôn bảo vệ vững chắc quốc gia này (các cuộc chiến tranh lớn năm 1948- chỉ một ngày sau khi nước này tuyên bố thành lập; năm 1956; năm 1967; năm 1973 và nhiều cuộc xung đột vũ trang cấp độ khác nhau với nhiều nước thuộc thế giới Arập).

>>Israel xây dựng lưới lửa dày đặc
>>Nếu Israel tấn công Iran: Khó đến mức nào?


Nền công nghiệp quốc phòng Israel là một trong những nhân tố quyết định các chiến thắng của Quân đội Israel trước các đối phương có quân số đông hơn nhiều lần.

Không những thế, các tổ hợp công nghiệp quốc phòng Israel còn là một trong những nhà xuất khẩu vũ khí lớn nhất thế giới, chỉ sau Mỹ và Nga (nhưng có một số số liệu so sánh khác đáng quan tâm hơn là vào năm 2012 dân số Mỹ vào khoảng 300 triệu người, kim ngạch xuất khẩu vũ khí là 66,3 tỷ đô la, các con số trên ở Nga là 140 triệu người và 14 tỷ đôla trong khi đó Israel chỉ có khoảng 7 triệu người nhưng thu nhập từ bán vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự và cả công nghệ lên tới 7 tỷ đôla- một con số rất ấn tượng).

Trong phạm vi bài viết này xin đề cập đến một số đặc điểm, mặt hàng sản phẩm quân sự và các khách hàng chủ yếu mua các sản phẩm quân sự của Israel.

Israel hiện chiếm một trong các vị trí hàng đầu trên thị trường vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự và công nghệ quân sự thế giới (gọi chung là các sản phẩm quân sự). Kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm quân sự tăng nhanh hàng năm.

Từ mức 2,58 tỷ năm 2001 lên 4,01 tỷ năm 2002, 3 tỷ năm 2003, 5,6 tỷ năm 2007, 7,4 tỷ năm 2010 và năm 2012 ước tính trên 7 tỷ đôla (chưa có số liệu thống kê chính thức của Israel). Về xếp hạng, nếu năm 2006 quốc gia này đứng ở vị trí thứ 6 sau Mỹ, Nga, Pháp, Anh và Đức thì đến năm 2008 Israel đã vượt qua Pháp, Anh, Đức và đứng ở vị trí thứ 3 chỉ sau Mỹ và Nga.

Khác hẳn phương Tây

Cơ cấu xuất khẩu vũ khí của Israel khác hẳn với các nước phương Tây- nếu các nước này dành phần lớn vũ khí và phương tiện kỹ thuật quân sự do mình sản xuất để trang bị cho Lực lượng vũ trang của mình thì Israel lại dành phần lớn cho xuất khẩu.

Trước đây Lực lượng vũ trang Israel cũng từng là khách hàng chủ yếu của các xí nghiệp thuộc tổ hợp công nghiệp quốc phòng nước này- chiếm tỷ lệ từ 80 đến 90% số sản phẩm tiêu thụ nhưng thời gian gần đây ngân sách quốc phòng đã bị cắt giảm mạnh nên Bộ quốc phòng Israel phải chuyển hướng bằng cách hạn chế các đơn đặt hàng nhà nước với các nhà sản xuất trong nước và ngày càng dựa nhiều hơn vào sự giúp đỡ quân sự của Mỹ.


Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Máy bay chiến đấu của Không quân Israel

Hiện nay, có khoảng 70 đến 80 % các sản phẩm quân sự do các xí nghiệp quốc phòng Israel sản xuất là dành để xuất khẩu. Tổ hợp công nghiệp quốc phòng quốc gia chủ yếu cung cấp cho quân đội các mẫu vũ khí mà các nước khác không có.

Ngoài ra, một phần lợi nhuận từ xuất khẩu vũ khí lại được tái đầu tư vào tổ hợp công nghiệp quốc phòng, và một phần khác bù đắp cho khoản thiếu hụt ngân sách đầu tư cho quốc phòng. Chính vì vậy mà sự cắt giảm xuất khẩu vũ khí sẽ có tác động tiêu cực đối với không chỉ riêng lực lượng vũ trang mà còn cả đối với toàn bộ hệ thống đảm bảo an ninh của nhà nước Israel nói chung.


Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Hệ thống Iron Dome của Israel.

Một đặc điểm khác nữa nếu so sánh với các nhà sản xuất vũ khí khác (Mỹ, Nga..) thì Israel bị nhiều hạn chế khi muốn tăng khối lượng xuất khẩu. Sự phụ thuộc vào Mỹ về kỹ thuật quân sự và quân sự- chính trị đã dẫn tới việc công nghiệp quốc phòng Israel bị hạn chế đưa ra thị trường vũ khí thế giới một số loại sản phẩm quân sự như máy bay chiến đấu, các tổ hợp phòng không, máy bay lên thẳng, tàu nổi, phương tiện kỹ thuật tăng thiết giáp.

Xuất phát từ thực tế trên và cũng do nguồn ngân sách hạn chế nên các tổ hợp công nghiệp quốc phòng Israel tập trung nguồn lực vào việc chế tạo các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự công nghệ cao và tiến hành các công tác nghiên cứu khoa học, thiết kế thử nghiệm các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật mới.

Các sản phẩm quân sự có khả năng cạnh tranh cao

Đến thời điểm hiện tai, Israel có một số sản phẩm quân sự sau đây có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường vũ khí thế giới:

Các thiết bị quang học và vô tuyến điện tử trang bị cho máy bay chiến đấu và máy bay lên thẳng;

Các hệ thống liên lạc, trinh sát và điều khiển;

Các trạm rada;

Vũ khí tên lửa các loại, bao gồm các lớp tên lửa có điều khiển “không đối không”, “không đối đất”, các tên lửa có điều khiển phòng không và chống tăng;

Một số loại máy bay không người lái;

Vệ tính và các phương tiện kỹ thuật vũ trụ;

Các thiết bị huấn luyện dùng cho huấn luyện phi công lái máy bay chiến đấu và máy bay lên thẳng;

Pháo và súng bộ binh;

Một số loại đạn, trong đó có cả các phương tiện tiêu diệt sử dụng trên máy bay;

Vỏ thép bảo vệ cho các xe tác chiến bọc thép;

Các phương tiện bảo vệ cá nhân cho binh sỹ và trang bị;

Các chương trình hiện đại hóa vũ khí và phương tiện kỹ thuật quân sự kể cả của Phương Tây và của Nga (Liên Xô).

Hoạt động của Israel trên thị trường vũ khí

Có khả năng tiếp cận công nghệ Mỹ và điều đó giúp nâng cao trình độ công nghệ- công nghiệp của Israel, đồng thời đơn giản hóa việc xâm nhập thị trường vũ khí Mỹ và hiện đại hóa các phương tiện kỹ thuật quân sự đang có trong trang bị không chỉ của chính lực lượng vũ trang Israel mà còn của một loạt các nước thứ 3.

Có khả năng đưa ra nhiều các hệ thống và các chi tiết riêng rẽ để tích hợp vào các mẫu đã có của các nước trong khuôn khổ các chương hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật hoặc các chương trình sản xuất các mẫu mới mà Israel tham gia.

Sẵn sàng chuyển giao cho bên mua vũ khí một số công nghệ riêng biệt, nếu điều đó không gặp sự phản đối của Mỹ. Điều đó nâng cao tính hấp dẫn của các sản phẩm quân sự Israel trên thị trường những nước muốn tự phát triển công nghiệp quốc phòng của mình như Ấn độ, Brazil, Nam Triều tiên. Các nước này bằng hình thức như vậy có thể tiếp cận, dù còn hạn chế, với những thiết kế mới nhất.

Kết hợp linh hoạt các hình thức hợp tác kỹ thuật quân sự khác nhau như: cung cấp các sản phẩm đã hoàn thiện, cung cấp các dịch vụ hiện đại hóa các vũ khí đang có trong trang bị, hợp tác công nghiệp- quốc phòng, đầu tư vào các dự án của các công ty nước khách hàng.

Một trong những đặc điểm quan trọng nữa trong các hợp đồng xuất khẩu là Israel tìm kiếm lợi nhuận từ khả năng của tổ hợp công nghiệp quốc phòng của mình bằng cách thỏa mãn nhu cầu cung cấp phụ tùng, vật tư thay thế và hiện đại hóa các vũ khí cũ do Liên Xô sản xuất.

>> Tiêm kích Mirage: lựa chọn của Israel

Tiêm kích đa năng Kfir của Israel được chế tạo dựa trên khung máy bay Dassault Mirage-5, với hệ thống điện tử hàng không và động cơ phản lực do Israel chế tạo.

>> Đánh giá thực lực quân đội Pháp
>>Ấn Độ nâng cấp Mirage 2000


Thiết kế Mirage-5 của Pháp bị đánh cắp như thế nào?

Giữa thập niên 1960, Israel tăng cường sức mạnh quân sự bằng nhiều biện pháp, trong đó có việc mua vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại của các nước phương Tây và Mirage của Pháp được nhắm tới.

Cơ hội ngẫu nhiên

Theo yêu cầu của Israel, Hãng Dassault Aviation (Pháp) bắt đầu phát triển Mirage 5, một biến thể tấn công mặt đất.

Theo đề nghị của Israel, hệ thống điện tử hàng không đặt ở sau buồng lái bị loại bỏ, cho phép tăng khả năng mang nhiên liệu và giảm giá thành bảo dưỡng.

Năm 1968, Dassault hoàn thành sản xuất 50 chiếc Mirage-5J cho Israel, nhưng lệnh cấm vận vũ khí do Chính phủ Pháp áp đặt năm 1967 đã ngăn Dassault chuyển giao máy bay.

Tuy vậy, không lâu sau đó, Israel đáp trả bằng việc sản xuất không giấy phép một loạt bản sao gần như nguyên vẹn của Mirage 5. Thành công của chiến dịch này nằm ngoài sức tưởng tượng của chính những người trong cuộc.


http://nghiadx.blogspot.com
Mirage, niềm tự hào của nước Pháp. Ảnh: Giantbomb

Có rất nhiều vụ việc lớn được bắt đầu một cách ngẫu nhiên và điều này xảy ra với nhân vật chính trong câu chuyện là Alfred Frauenknecht, một người Thuỵ Sỹ gốc Đức, kỹ sư trưởng của một chi nhánh thuộc công ty Sulzer Brothers tại Thuỵ Sỹ chuyên sản xuất máy bay tiêm kích phản lực Mirage.

Chính phủ Thuỵ Sỹ lúc đó đã đặt mua những chiếc máy bay của công ty Dassault với điều kiện loại máy bay này sẽ được sản xuất tại Thuỵ Sỹ. Frauenknecht là người giám sát dự án này và anh ta thường phải gặp gỡ các kỹ sư Israel ở Paris. Các kỹ sư này thường đến hãng Dassault để giải quyết các vấn đề về kỹ thuật. Frauenknecht kết bạn với một vài người kỹ sư và thường nói chuyện với những người Israel về các chủ đề quân sự và chính trị.

Sau Cuộc chiến 6 ngày (Cuộc chiến ở vùng Cận Đông xảy ra giữa Israel và các nước Ai cập, Lybia, Iraq, Jordan), các nhà chế tạo máy bay Pháp đã mời các chuyên gia Israel đến Paris để chia sẻ với họ về những kinh nghiệm thực tiễn do chính các phi công và kỹ thuật viên của Israel thực hiện trong thời gian chiến sự thực tế.

Là người Thuỵ Sỹ có cảm tình với đất nước Israel, Frauenknecht cho rằng, toàn bộ châu Âu đã phải chịu ơn người Do Thái về những gì đã xảy ra với họ trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ 2. Các buổi tiếp xúc cá nhân của anh ta với những kỹ sư Israel đã tăng thêm sự tin tưởng này.

Vào thời điểm đó, nước Pháp bắt đầu từ chối cung cấp cho Israel 50 chiếc máy bay tiêm kích Mirage-5J trong khi tiền đã được trả đầy đủ. Một số kỹ sư khi làm việc với Frauenknecht đều biết được thái độ thiện chí của anh ta đối với Israel. Và những người Israel đã tận dụng cơ hội đó, hai đồng nghiệp Israel của Frauenknecht đã đến hỏi thẳng xem anh ta có thể giúp họ có được những bộ phận dự trữ để chế tạo những chiếc máy bay đó và ngay lập tức nhận được câu trả lời. "Tôi có thể làm tất cả những gì trong khả năng của tôi", Frauenknecht nói, "nhưng tôi chưa ký hợp đồng. Tôi cần phải có một công việc. Ngoài ra, tôi có thể sẽ giới thiệu các anh đến gặp trực tiếp chính phủ Thuỵ Sỹ".

Trên thực tế, người Israel luôn muốn Chính phủ Thuỵ Sỹ trả lời họ về việc, liệu chính phủ Thuỵ Sỹ có thể giúp họ có được các phụ tùng của những chiếc máy bay Mirage hay không và họ đã nhận được câu trả lời là không. Một vài phi công Pháp học cùng với phi công Israel cũng tỏ ý sẵn sàng chuyển một số bản vẽ Mirage đến Israel. Nhưng yêu cầu của họ không rõ vì sao không được chấp nhận hoặc vì lý do Israel không muốn gây căng thẳng với Pháp nếu bại lộ.

Quyết định mạo hiểm

Lãnh đạo Mossad quyết định nhờ cậy đến Frauenknecht một lần nữa. Tháng 4/1968, hai nhân viên của Mossad là đại tá Zvi Allon và đại tá Nehemiah Haim đã đến gặp kỹ sư Thuỵ Sỹ này ở khách sạn Ambasador tại Zurich, nhờ giúp đỡ hoặc có thể được tư vấn. Lần này câu trả lời Frauenknecht lịch sự nhưng hơi loanh quanh, anh ta hứa sẽ làm tất cả những gì có thể, nhưng nói không dám vi phạm pháp luật. Allon và Haim trở về Israel ngay sau đó và hoàn toàn không tin tưởng công việc sẽ có kết quả tốt đẹp. Một thời gian sau, Frauenknecht gọi điện đến Đại sứ quán Israel ở Paris đồng ý hợp tác. Allon ngay lập tức đi đến Zurich.

Những người Israel lần này rất ngạc nhiên vì người kỹ sư kia đã đón tiếp họ ở một nơi hẻo lánh, nơi mà không một quan chức nào của chính phủ Thuỵ Sỹ hay những nhà kinh doanh có tiếng tăm nào lại đến nơi này. Frauenknecht nói rằng đây là để tránh những cặp mắt soi mói của họ chĩa vào cuộc gặp của mình với những nhân viên tình báo Israel. Ngồi trong một quán bar biểu diễn thoát y vũ, Frauenknecht lập tức vào việc: "Các anh chỉ mất thời gian vào việc tìm kiếm các bộ phận dự trữ. Tôi không thể giúp các anh có được Mirage".

Đại tá Allon đồng ý với câu trả lời của Frauenknecht và cho rằng, điều này là không thể, bởi vì Mirage của Thuỵ Sỹ được cất giữ trong boong-ke dưới lòng đất ở Alpes. Israel cũng hoàn toàn không muốn mối quan hệ với Chính phủ Thuỵ Sỹ trở nên phức tạp hơn. "Tôi không nói bất cứ điều gì về vụ đánh cắp máy bay", Frauenknecht bác bỏ, "tôi không có ý định trở thành kẻ phản quốc và cũng không có ý định đưa cho các anh các bản vẽ Mirage". Những người Israel nhìn người kỹ sư đó với thái độ hết sức băn khoăn, với thái độ như vậy thì anh ta tiến hành cuộc gặp này để làm gì?

>> Thông tin mới nhất về cán cân quân sự Iran - Israel

So sánh giữa sức mạnh các lực lượng của Iran và Israel có thể thấy sự khác biệt lớn cả về trang thiết bị, năng lực và số lượng binh sĩ.


>> Các kịch bản xung đột Iran-Israel (kỳ 1)
>> Tiềm lực quân sự của Iran

Iran có số dân nhiều gấp 10 lần Israel để tham gia vào các lực lượng vũ trang nhưng phần lớn trang thiết bị quân sự của nước này lại ở trong tình trạng mơ hồ, không rõ ràng, do lệnh cấm vận được áp dụng từ năm 1979.

Sự kiện quân sự gần đây nhất mà Iran tham gia là cuộc chiến kéo dài một thập kỷ với Iraq trong những năm 1980, sau đó Iran duy trì “học thuyết không tấn công trước tiên”.

David Roberts, Phó giám đốc Viện RUSI cho biết: “Nói chung, không có phân tích bí mật hay nổi trội nào cho thấy Quân đội Israel được trang bị và đào tạo tốt nhất trong khu vực. Tuy nhiên, một số lĩnh vực đã được kiểm chứng. Vì vậy, các lực lượng thông thường của Iran không phải là mối lo ngại đối với Mỹ và các đồng minh. Lực lượng Vệ binh Cách mạng của nước này được trả lương cao hơn và được tổ chức tốt hơn phần còn lại của Quân đội Iran. Lực lượng Quods và khả năng hải quân của họ chưa được biết đến nhiều”.

Ông cũng cho rằng bất kỳ cuộc đối đầu trực tiếp nào giữa Israel và Iran có thể sẽ liên quan đến loại máy bay tầm xa, các vũ khí phòng không, tàu hải quân loại nhỏ và tên lửa đạn đạo.



http://nghiadx.blogspot.com
Căng thẳng giữa Iran và Israel khó giải quyết?

Ông Kamran Bokhari, Phó Chủ tịch Hội hợp tác Đông Á và Trung Đông, cho rằng: “Cách để mô tả cái nhìn của Iran về quân đội Israel là chú ý tới phần địa lý.

Trên bản đồ, Israel có thể không quá xa với Iran nhưng trên thực tế, đây là hai quốc gia thù nghịch và mâu thuẫn nhưng cách xa nhau. Dù Israel có quân đội được đánh giá mạnh hơn nhưng cũng khó có thể triển khai một chiến dịch lâu dài chống lại Iran.

Người Iran biết điều đó và không mấy lo lắng việc Israel sẽ tấn công mình mà dành nhiều quan ngại cho Mỹ, đất nước triển khai lực lượng quân sự ất gần với biên giới Iran.

Số lượng binh sĩ

Quân đội Israel, từng chiến đấu với một số láng giềng, được cấu thành từ các lực lượng quốc phòng Israel (IDF hay Tzahal), Lực lượng Hải quân (IN) và Không quân Israel (IAF). Độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự bắt buộc đối với hầu hết công dân là 18 tuổi.

Israel có 176.500 quân nhân đang phục vụ, trong đó có 107.000 lính nghĩa vụ. Hải quân có 9.500 thủy thủ đang làm nhiệm vụ, 34.000 người phục vụ trong lực lượng không quân và tổng lực lượng quân dự phòng là 565.000 người.

Còn Iran được cho là có 523.000 người đang phục vụ trong quân đội, gồm 350.000 người trong bộ binh, trong đó có 220.000 lính nghĩa vụ. Vệ binh Cách mạng Hồi giáo, được cho là lực lượng trung thành nhất với hệ thống lãnh đạo, có thêm 125.000 binh lính.

Những người đàn ông Iran trẻ bắt buộc phải phục vụ 18 tháng trong quân đội khi họ 19 tuổi và những người tình nguyện có thể tham gia khi 18 tuổi. Lực lượng tình nguyện bán quân sự, còn gọi là Basij, tuyển thành viên từ 15 tuổi.

Có nhiệm vụ bảo vệ biên giới đất nước và duy trì trật tự trong nước, Quân đội Iran bao gồm các Lực lượng thường trực Cộng hòa Hồi giáo Iran (Artesh), với lục quân, hải quân, không quân và phòng không.

Vệ binh Cách mạng Hồi giáo gồm lục quân, hải quân, không quân và Quods (lực lượng hoạt động đặc biệt). Iran có tổng cộng 18.000 lính hải quân, 30.000 lính không quân, gồm 12.000 người thuộc đội phòng không.

Dữ liệu quân sự

                                                                                       Iran                                        Israel

Tổng dân số                                                          78,9 triệu                                 7,5 triệu

Nam từ 16-49 tuổi                                    23 triệu                                   1,8 triệu

Các lực lượng đang hoạt động            545,000                                  187,000

Lực lượng phòng bị                               650,000                                   565,000

Ngân sách quốc phòng                         9.2 tỷ USD                               13.5 tỷ USD


http://nghiadx.blogspot.com
Bảng so sánh giữa quân đội Iran và Israel.


Xe tăng, tàu chiến và máy bay

Quân đội Israel có hơn 3.000 xe tăng, gồm 441 Merkava MkI,455 Merkava MkII, 454 Merkava MkIII, 175 Merkava MkIV và 206 mẫu Centurion.

Theo Reuters, Quân đội Israel cũng có khoảng 10.484 xe chiến đấu bộ binh chở quân và 5.432 khẩu pháo, gồm 620 khẩu cơ giới hóa và 456 khẩu pháo kéo.

Theo báo cáo, Quân đội Iran có 1.613 xe tăng, gồm 100 xe Zulfiqar sản xuất trong nước, 100 chiếc mẫu Chieftain Mk3 và Mk5 do Anh sản xuất đã lâu, có từ trước cách mạng năm 1979, cùng 150 chiếc M-60A1s của Mỹ và 480 chiếc T-72, 540 T-54/T-55 của Liên Xô.

Tehran cũng có khoảng 640 xe chiến đấu bộ binh, 8.196 khẩu pháo, trong đó 800 khẩu cơ giới hóa và 2.010 khẩu pháo kéo.

Hải quân Israel có ba tàu ngầm Dolphin (theo phiên bản 212 của Đức) được cho là có trang bị vũ khí hạt nhân, giúp Israel có khả năng tấn công xa bờ, cùng với 57 tàu tuần tra và chiến đấu bờ biển và ba tàu hộ tống nhỏ.

Trong khi đó, Iran có một hạm đội tàu hải quân “hoành tráng” hơn rất nhiều, gồm 23 tàu ngầm, trong đó có 15 tàu tấn công tầm ngắn, 3 tàu ngầm tấn công điện-diesel loại 877 lớp Kilo do Nga sản xuất, 12 tàu ngầm nhỏ (Ghadir và Nahang) và 8 phương tiện huyên chở thủy thủ. Iran còn có hơn 100 tàu tuần tra và chiến đấu bờ biển, trong đó có 6 tàu hộ tống nhỏ, 13 tàu tuần tra, 4 thuyền tuần tra, 21 tàu bán lặn và 56 tàu tuần tra đủ loại.

Sức mạnh hải quân

                                                                             Iran                                    Israel

Tổng số tàu hải quân                                     261                                        64

Thương thuyền                                               74                                           10

Cảng chính                                                       3                                               4

Tàu sân bay                                                      0                                              0

Tàu khu trục                                                     3                                              3

Tàu ngầm                                                          19                                            3

Tàu khu trục nhỏ                                             5                                              0

Tàu tuần tra                                                     198                                          42

Tàu tấn công lưỡng cư                                26                                             0

Lực lượng Không quân Israel có được danh tiếng về độ chính xác trong cuộc chiến Trung Đông năm 1967 nhưng lại bị chỉ trích nặng nề trước cái chết của hàng nghìn dân thường tại Bờ Tây, Gaza và Lebanon trong các thập kỷ sau đó.

Israel sở hữu 460 máy bay chiến đấu với 27 chiếc Boeing F-15A Eagle, 7 chiếc F-15B và 90 chiếc F-16A Falcon. Phi đội cũng bao gồm 227 máy bay tấn công mặt đất và 65 chiến đấu cơ, cùng với 9 máy bay vận chuyển và 77 máy bay khác.

Israel có 81 trực thăng tấn công, gồm 30 chiếc Bell AH-1E/AH-1F Cobra và 30 chiếc Boeing AH-64A Apache cùng 200 trực thăng vận tải. Năng lực phòng không của Israel thể hiện qua 48 hệ thống phòng không, ít hơn so với 279 tên lửa SAM của Iran.

Lực lượng không quân Iran được cho là sở hữu 336 máy bay, gồm 189 máy bay chiến đấu như 20 chiếc F-5B của Mỹ, 60 chiếc F*5E Tiger II và 35 chiếc MiG-29A của Nga.

Iran còn có 108 máy bay tấn công mặt đất cả trong nước và do Nga sản xuất, nhiều chiếc trong số đó có nguồn gốc từ Iraq. 116 máy bay vận chuyển của nước này có xuất xứ từ Trung Quốc, Hà Lan và Mỹ. IRIAF cũng trang bị 30 trực thăng trinh sát hải quân Bell 214C.

Vũ khí lục quân

                                                                                        Iran                                      Israel

Xe tăng                                                                  1,613                                                3,501

Pháo kéo                                                              2,010                                                 456

Súng tự hành                                                       865                                                    620

Hệ thống tên lửa đa năng                                 200                                                    138

Súng cối                                                                5,000                                                 750

Vũ khí chống tăng                                              1,400                                                  900

Vũ khí chống máy bay                                       1,701                                                  200

Các phương tiện hậu cần                                12,000                                                7,684

Sức mạnh tên lửa

Khoảng 1.000 tên lửa chiến lược của Iran, có khả năng tấn công qua vùng Vịnh và xa hơn, đang thuộc quyền kiểm soát của Lực lượng Vệ binh Cách mạng, gồm 300 tên lửa đạn đạo tầm ngắn, trong đó có các tên lửa do Iran sản xuất, Shahab-1 (biến thể Scud-B), Shahab-2 (biến thể Scud-C), và Tondar-69 (biến thể CSS-8).

Tehran cũng tự sản xuất tên lửa đạn đạo chiến lược tầm trung Shahab-3 (IRBM), với tầm bắn lên tới 1.000 km, Ghadr-1 với tầm bắn 1.600 km và Shahab-3 với tầm bắn lên tới 2.400 km, theo báo cáo của Reuters.

Nếu thông tin trên là đúng, Israel và hầu hết khu vực Đông Âu đều nằm trong tầm ngắm của Tehran.

Tháng 1/2009, Iran đã thử nghiệm tên lửa không đối không mới. Sau đó, vào ngày 7/3/2010, Iran cho hay nước này đang sản xuất tên lửa tầm ngắn được miêu tả là chính xác cao và có thể phá hủy các mục tiêu lớn. Lực lượng Vệ binh Cách mạng có 24 hệ thống phóng, trong đó 12-18 hệ thống dành cho tên lửa tầm ngắn Shahab 1-2 và ít nhất 6 hệ thống dành cho Shahab-3, Ghadr-1 và Sajjil-2.

“Tất cả vũ khí trên đều được che dấu và không công khai. Chúng tôi không có nhiều thông tin về việc Iran có thể làm được những gì. Có khả năng tên lửa Iran có thể nhắm chính xác đến các quốc gia Arab nhưng Israel còn ở xa hơn”, ông Bokhari nhận định.

Ông cũng cho rằng sức mạnh của Iran nằm ở “khả năng phá vỡ nền kinh tế toàn cầu” và khiến cho bên kia không thể mở một cuộc tấn công quân sự thông qua việc “đẩy các chi phí lên cao”.

Đầu tháng 1/2012, Iran đã thử nghiệm tên lửa phòng không tầm trung ở vùng Vịnh được sản xuất và thiết kế trong nước. Vụ phóng được thực hiện giữa lúc áp lực quốc tế lên chương trình hạt nhân của nước này đang gia tăng.

Trong khi Iran bác bỏ việc sản xuất vũ khí hạt nhân, Israel lại được cho rằng có tiềm lực hạt nhân, bất chấp chính sách “nhập nhằng hạt nhân”. “Bộ sưu tập” của Israel gồm có tên lửa đạn đạo tầm trang Jericho-2 và tầm ngắn Jericho-1. Báo cáo cho rằng Israel có 200 đầu đạn hạt nhân, có thể đi kèm với tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM).

Ngày 2/11/2011, Israel đã bắn thử một tên lửa ICBM được cho là biến thể nâng cấp Jericho-3 với trọng tải 1.000 kg và có thể “xuyên” tới Nam Mỹ. Ngày hôm sau, Israel tổ chức một cuộc tập trận quốc phòng dân sự quy mô lớn, giả tưởng xảy ra tấn công tên lửa ở trung tâm đất nước.

Mặc dù có một số thuận lợi, nhưng ông Roberts, chuyên gia an ninh tại RUSI, vẫn cho rằng Israel không có đủ máy bay và không đủ bom để “lội ngược dòng”.

“Tôi không nghĩ đây là một việc có thể suy đoán bằng cách thông thường. Không nên ảo tưởng rằng Israel có thể đơn phương chấm dứt chương trình hạt nhân của Iran”, ông nhận định.

Kho vũ khí tên lửa

                                                       Iran                                                            Israel

Tầm ngắn                    Shahab-2 (1.280 km)                              Jericho-1 (1.400 km)

Tầm trung                   Ghadr-1 (1.600 km)                                 Jericho-2 (2.800 km)

Tầm xa                        Sajjil-2 (2.400 km)                                    Jericho-3 (5.000 km)


>> Chỉ vì Iran mà Israel bị cả thế giới ghét ?


Theo đuổi chiến lược ngăn chặn hạt nhân, Israel không ngừng kêu gọi tấn công Iran để ngăn nước này sở hữu vũ khí hạt nhân, đe dọa sự tồn vong của Nhà nước Do thái. Tuy nhiên, đã đến lúc Israel phải nghĩ đến chuyện sống chung với một nhà nước hạt nhân Iran.



>> Israel có tấn công Iran?
>> Các kịch bản xung đột Iran-Israel (kỳ 1)
>> Chiến tranh Iran - Israel gần kề?
>> Nếu Israel tấn công Iran: Khó đến mức nào?

Tư duy mâu thuẫn

Những năm 1960, Israel chủ trương phát triển khả năng hạt nhân với mục đích cuối cùng là đảm bảo an ninh. Trong trường hợp sự tồn vong của đất nước bị đe dọa, vũ khí hạt nhân sẽ là lựa chọn cuối cùng để Israel chống lại kẻ thù. Chiến lược này được gọi là “Lựa chọn Samson" – chiến lược răn đe bất cứ quốc gia nào có ý định tấn công đe dọa đến sự tồn vong của Nhà nước Do thái sẽ lãnh hậu quả là sự đáp trả quyết liệt bằng tên lửa, hạt nhân từ phía Israel.

"Lựa chọn Samson" được đặt theo tên một anh hùng trong kinh thánh của người Do thái, chấp nhận chết chung với kẻ thù bằng hành động giật sập ngôi đền Philistine.

Tuy nhiên, cũng trong thời gian này, người Israel bị chi phối bởi niềm tin rằng bất cứ đối thủ nào của họ phát triển vũ khí hạt nhân cũng đều là mối đe dọa đối với sự tồn vong của Nhà nước Do thái và do đó, phải bị ngăn chặn bằng mọi giá. Niềm tin này là cơ sở để hình thành Học thuyết Begin với phát súng mở màn là sự kiện Thủ tướng Israel Menachem Begin quyết dùng vũ lực để ngăn chặn chương trình hạt nhân của Iraq năm 1981.



http://nghiadx.blogspot.com
Israel cho rằng bất cứ đối thủ nào của họ chủ trương phát triển vũ khí hạt nhân đều là mối đe dọa đến sự tồn vong của Nhà nước Do thái nên phải bị ngăn chặn bằng mọi giá. Ảnh minh họa: bikyamasr.


Song một nghịch lý là: "Lựa chọn Samson” chủ trương tìm kiếm và phát triển các lợi thế tiềm năng cơ bản cho Israel để răn đe các kẻ thù sở hữu vũ khí hạt nhân của họ. Trong khi đó, Học thuyết Begin lại chủ trương ngăn chặn bất cứ tham vọng phát triển vũ khí hạt nhân nào từ các đối thủ của họ.

Cuộc tranh luận mãi vẫn chưa có hồi kết về chương trình hạt nhân của Iran rõ ràng đã làm lộ ra những mâu thuẫn trong tư duy chiến lược của Israel. Có vẻ như, Học thuyết Begin xuất phát từ việc Israel không tin tưởng vào khả năng ngăn chặn hạt nhân của họ.

Mặc dù “Lựa chọn Samson” của Israel ủng hộ cho Học thuyết Hủy diệt lẫn nhau (MAD) để ngăn chặn chiến tranh hạt nhân giữa các quốc gia, giới lãnh đạo Israel ngày nay lại không tin vào chiến lược này. Họ cho rằng, việc để yên cho kẻ thù phát triển các khả năng hạt nhân chính là hành động “nối dáo cho giặc”, đẩy Israel vào tình thế nguy hiểm.

Cảm giác bất an, nỗi sợ hãi bị tấn công – kết quả của giả định rằng Nhà nước Do thái luôn phải chống chọi với các mối đe dọa sinh tồn – trở thành lý do để Israel tìm kiếm sự bảo đảm an ninh tuyệt đối. Cốt lõi trong chiến lược của người Israel chính là khái niệm rằng họ chỉ có thể tồn tại trong trường hợp họ giành được ưu thế vượt trội hơn kẻ thù về mặt quân sự. Do đó, Israel luôn muốn giữ thế độc quyền hạt nhân trong khu vực.

Điều này giải thích tại sao Israel tiến hành các cuộc không kích vào các cơ sở hạt nhân bí mật của Iraq năm 1981 và vào Syria năm 2007 nhằm bảo đảm thế độc quyền về khả năng hạt nhân của họ.

Trong khi chương trình hạt nhân là một chiến lược để tìm kiếm sự bảo đảm cuối cùng cho kịch bản ngày tận thế trong trường hợp tất cả kẻ thù liên minh lại với nhau và dốc toàn lực tấn công, đe dọa hủy diệt Nhà nước Do thái thì những đối thủ truyền thống của Israel lại chẳng màng đến chiến lược ngăn chặn hạt nhân của nước này.

Bằng chứng là, chiến lược ngăn chặn hạt nhân của Israel không ngăn được việc Syria và Ai Cập tấn công xâm lược Israel năm 1973 và việc Iraq phóng tên lửa vào lãnh thổ nước này năm 1991.

Ngoài ra, một bằng chứng dễ thấy nhất chính là tình trạng bạo lực leo thang liên tục ở dải Gaza dẫn đến việc Israel phải hứng chịu các trận mưa rocket do các nhóm vũ trang Hezbollah hoặc Hamas tiến hành nhằm vào các khu dân cư đông đúc của Nhà nước Do thái trong suốt thập kỷ qua. Đáng nói là, các nhóm vũ trang này tấn công chống lại Israel bất chấp việc nước này luôn là lực lượng chiếm ưu thế trên chiến trường.

Theo sử gia Avner Cohen, chương trình hạt nhân của Israel đã được khởi động mà không có những phân tích cẩn thận về các mục tiêu chiến lược lâu dài, cách thức áp dụng và các vấn đề liên quan khác đến khả năng răn đe của nó.

Càng cố chống Iran, Irael càng bị chán ghét

Thực tế là, ngày nay, phần lớn chiến lược gia của Israel theo đuổi Học thuyết Begin: ngăn chặn các đối thủ sở hữu vũ khí hạt nhân bằng mọi giá.

Tuy nhiên, việc kích động một cuộc chiến chống lại Cộng hòa Hồi giáo nhằm ngăn chặn nước này sở hữu vũ khí hạt nhân chứng tỏ rằng Israel nghi ngờ khả năng ngăn chặn một nhà nước hạt nhân Iran theo như chiến lược hạt nhân của họ. Nói cách khác, họ không có đủ niềm tin vào chiến lược ngăn chặn hạt nhân - “Chọn lựa Samson” dựa trên Học thuyết hủy diệt lẫn nhau (MAD) bằng tên lửa, hạt nhân.

Không ít người mù quáng cho rằng giới lãnh đạo Iran - bị thúc đẩy bởi hệ tư tưởng tôn giáo cứu thế sai lầm – sẽ sử dụng vũ khí hạt nhân để tiêu diệt Israel, bất kể cái giá phải trả là gì.

Những người khác thì lại lập luận thậm chí, trong trường hợp các nhà hoạch định chính sách Iran là những người có lý trí, thì thế giới quan bí ẩn cộng với quan hệ lạnh nhạt với Israel có thể sẽ khiến Tehran, vì một hiểu nhầm nào đó mà có thể khởi động cho sự leo thang hạt nhân mang lại những hậu quả khôn lường.

Một lập luận phổ biến khác chống lại MAD xuất phát từ quan ngại Iran sở hữu vũ khí hạt nhân sẽ dẫn đến sự phổ biến loại vũ khí hủy diệt trên khắp Trung Đông.

Đáng bận tâm là, giới lãnh đạo Israel ngày nay cũng không ủng hộ MAD – cốt lõi của chiến lược “Chọn lựa Samson” của họ. Giới chức Israel cho rằng, để yên cho kẻ thù phát triển các khả năng hạt nhân chính là hành động “nối dáo cho giặc”, đẩy Israel vào thế nguy hiểm.

http://nghiadx.blogspot.com
Giới lãnh đạo Israel cho rằng để yên cho kẻ thù phát triển vũ khí hạt nhân là hành động "nối giáo cho giặc". Ảnh minh họa: news4u.

Điều này giải thích tại sao Israel tiến hành các cuộc không kích vào các cơ sở hạt nhân bí mật của Iraq năm 1981 và vào Syria năm 2007 nhằm để đảm bảo thế độc quyền về khả năng hạt nhân của họ.

Tuy nhiên, hành động kích động cho một cuộc chiến chống lại Iran hiện nay của Israel cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro và chỉ khiến hình ảnh của Nhà nước Do thái trong mắt cộng đồng quốc tế ngày càng xấu xí đi. Thậm chí, nó kích động tình cảm chống Nhà nước Do thái phổ biến rộng rãi hơn trên phạm vi thế giới. Nicky Larkin, một nhà làm phim người Ireland nhấn mạnh: “Chống Israel được coi là một phần bản sắc Ireland của chúng tôi, giống như việc chúng tôi ghét người Anh vậy”.

Thêm vào đó, cách đây không lâu, tờ Economist chạy bài xã luận tiêu đề “Nỗi ám ảnh Auschwitz”, cáo buộc căng thẳng và bất ổn ở Trung Đông mãi không dứt chính là do nỗi sợ hãi bị tấn công mù quáng của người Israel - sinh ra từ sau vụ tàn sát người Do thái thời Đức Quốc xã. Vì sợ hãi, Israel bị ám ảnh về một bóng ma hạt nhân Iran, do đó, biến Iran thành kẻ thù số 1 của họ. Bài xã luận “Nỗi ám ảnh Auschwitz” nhấn mạnh rằng “người Israel về mặt tâm lý đã chuyển căn nguyên gây ra nỗi lo sợ của họ vào một đối tượng không mấy liên quan: Iran”.

Nhưng trong khi một cuộc tấn công Iran sẽ khiến Israel đối mặt với không ít rủi ro, đe dọa đến sự tồn vong của họ, thì thực tế, chính phủ nước này còn phải đối mặt với câu hỏi quan trọng khác. Đó là liệu theo đuổi một cuộc tấn công nhằm vào Cộng hòa Hồi giáo có thể chấm dứt khát vọng sở hữu vũ khí hạt nhân của họ hay không.

Đây là câu hỏi mà Nhà nước Do thái cần phải trả lời trước khi đưa ra bất cứ hành động liều lĩnh nào. Đã đến lúc, Israel cần cân nhắc một cách nghiêm túc về việc sẽ tiếp tục ngăn chặn một nhà nước hạt nhân Iran hay sống chung với họ. Rõ ràng, nếu Học thuyết Begin thất bại, không còn cách nào khác Israel sẽ phải tính chuyện làm thế nào để sống chung với một nhà nước hạt nhân Iran.

Israel thề sẽ ngăn chặn Cộng hòa Hồi giáo đạt được giấc mơ hạt nhân nhưng có vẻ như họ lại chưa chuẩn bị cho những gì sẽ xảy ra nếu họ thất bại để đạt được mục tiêu này. Cho đến nay, các nhà hoạch định chính sách của Israel vẫn tránh thảo luận công khai để tìm ra chiến lược chung sống với một nhà nước hạt nhân Iran. Lý do là, họ sợ bàn về vấn đề này sẽ tác động tiêu cực đến chiến lược ngăn chặn hạt nhân của họ và gây ra sự lầm tưởng rằng họ chấp thuận để Iran sở hữu vũ khí hạt nhân.

Tuy nhiên, thực tế là, các cuộc tranh luận công khai về vấn đề này có khả năng sẽ làm tăng nhận thức và hiểu biết về việc làm thế nào để Israel có thể thực thi chiến lược ngăn chặn hạt nhân của họ hiệu quả nhất và để tránh bất cứ sự leo thang nguy hiểm nào liên quan đến vấn đề này. Đồng thời, nó giúp điều chỉnh, xóa bỏ các mâu thuẫn trong chiến lược hạt nhân của nước này.