Hiển thị các bài đăng có nhãn Máy bay ném bom. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Máy bay ném bom. Hiển thị tất cả bài đăng

>> Những siêu phẩm có số phận hẩm hiu của Liên Xô (P1)

Một trong những điểm chung mà siêu phẩm của Liên Xô phải chịu cảnh chết yểu là do quá to, quá độc và quá lạ.

>> Kalinin K-7 - 'siêu pháo đài bay của Liên Xô



http://nghiadx.blogspot.com
Siêu pháo đài bay K-7 giữ kỷ lục mang bom nhiều nhất trong thời đại máy bay cánh quạt.


Nền công nghiệp quốc phòng của Liên Xô từng tạo ra nhiều vũ khí huyền thoại nhưng cũng không ít “siêu phẩm” có số phận hẩm hiu.

Những vũ khí có kích thước khủng đầu tiên của Liên Xô xuất hiện từ những năm 1930 không lâu sau khi nhà nước Liên bang Xô Viết ra đời.

Pháo đài bay K-7

Đầu năm 1930, nhà thiết kế máy bay Konstantin Kalinin đã nghiên cứu, phát triển, chế tạo thành công máy bay ném bom hạng nặng Kalinin K-7. Điều làm cho K-7 được xưng tụng như là kỳ quan thế giới vì nó sở hữu kích thước khổng lồ, một trong những máy bay động cơ cánh quạt lớn nhất từng được chế tạo trước khi lịch sử hàng không bước vào thời đại phản lực.

K-7 có sải cánh dài 53m, chỉ kém một chút so với cánh “pháo đài bay” B-52, nhưng diện tích cánh K-7 lớn hơn nhiều. Với biến thế quân sự, K-7 được xem là pháo đài với 12 tháp pháo có những bộ phận tiếp đạn được điện khí hóa - công nghệ cực kỳ hiện đại vào thời điểm đó.

Ngoài ra, máy bay có thể mang được 16 tấn bom, nếu so với pháo đài bay B-17 (2 - 3 tấn bom) hay B-29 (9 tấn bom) mà Mỹ tự nhận thì chẳng khác nào đem so “người không lồ và chàng tí hon”. Kỷ lục này giữ tới tận khi B-36, B-52 ra đời mới bị phá vỡ.

Độc đáo hơn, trong thiết kế K-7, Kalinin dự định phát triển biến thể chở khách. Nó có thể chứa được 128 hành khách trong cánh khổng lồ của máy bay, trên thân thiết kế 16 phòng hạng sang bên trong.

Nhưng các dự định không thành hiện thực, một phần vì thiết kế chứa quá nhiều tham vọng, trong khi công nghệ chưa thể theo kịp. Kalinin K-7 cất cánh thành công ngày 11/8/1933 nhưng từ đó nó bộc lộ một số vấn đề về tính không ổn định và sự rung mạnh do khung thân cộng hưởng tần suất động cơ gây nên.

Hậu quả, ngày 21/10/1933, K-7 gặp tai nạn do có sự cố cánh đuôi làm 14 người thiệt mạng. Dự án bị đình chỉ sau đó 2 năm. Tư liệu về K-7 ngày nay chỉ còn trong bức hình đen trắng và ảnh đồ họa máy tính.

Vài chục năm sau khi K-7 ra đời, công nghệ kỹ thuật Liên Xô tăng tiến vượt bậc và lại có thêm những siêu phẩm khủng hơn tiếp bước K-7.

Thủy phi cơ M-70 “chết trên giấy”

Những năm 1950-1960, Hải quân Mỹ vượt trội Liên Xô nhờ sức mạnh hàng không mẫu hạm đông đảo, hùng hậu trên biển. Ngược lại, Liên Xô vẫn chưa tìm ra thiết kế tàu sân bay phù hợp. Vì vậy, họ quyết định chọn giải pháp phát triển thủy phi cơ để tăng tầm tác chiến xa bờ. Năm 1956, Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô quyết định chọn phòng thiết kế OKB Myasischev thực hiện.

OKB Myasischev đã cho ra đời thiết kế thủy phi cơ ném bom M-70. Loại máy bay dùng kiểu cánh tam giác, cánh đuôi đứng, cánh ổn định nằm ngang trên cánh đuôi đứng. M-70 trang bị 4 động cơ phản lực (2 trên cánh và 2 ở hai bên cánh đuôi đứng) cho phép đạt tốc độ 950 - 1700km/h, tầm bay 6.500 - 7.500km, trần bay 18 - 22.000m.




http://nghiadx.blogspot.com
Thủy phi cơ chống tàu sân bay M-70

Theo thiết kế, máy bay này có trọng lượng cất cánh khoảng 200 tấn, đủ thể thấy kích cỡ khổng lồ của máy bay. M-70 mang thiết bị trinh sát ở sát cánh chính và thân máy bay, bom ở trong khoang. Tuy nhiên, dự án đã chết ngay từ trên giấy khi không được Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô thông qua.

Trước nguy cơ từ sức mạnh hàng không mẫu hạm của Mỹ, tham vọng tạo ra vũ khí đối phó mặc dù được thúc đẩy nhưng không thể mang lại kết quả gì trong nhiều năm, cho tới khi mẫu thử Sukhoi T-4 xuất hiện, le lói tia sáng cuối đường hầm giải pháp đối phó hiệu quả hạm đội tàu sân bay Mỹ.

“Sát thủ diệt tàu sân bay” T-4

Năm 1964, nhà sáng chế tài ba Pavel Sukhoi đã trình bày bản vẽ mẫu thiết kế máy bay ném bom chiến lược T-4. Chiếc máy bay ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu của chính quyền Xô Viết về loại vũ khí có thể áp chế sức mạnh tàu sân bay Mỹ. Vì lẽ đó, Sukhoi T-4 ra đời được xem là siêu vũ khí của Liên Xô, thể hiện từ hình dáng tới công nghệ chế tạo.

Thiết kế khí động học T-4 cực kỳ ấn tượng. Máy bay có kết cấu cánh tam giác, rìa cánh được kéo dài đến gần buồng lái, có thêm 2 cánh mũi để tăng ổn định và cơ động. Phần mũi máy bay chúi xuống về phía trước, radar sẽ quan sát địa hình tốt hơn, tầm nhìn phi công không bị hạn chế. Kiểu dáng T-4 ở thời kỳ này làm người ta dễ liên tưởng tới máy bay chở khách siêu thanh Tupolev Tu-144S và Concorde (Pháp).

Vật liệu chế tạo T-4 được đánh giá là bước đột phá trong vật liệu sản xuất máy bay, với hợp kim titan và thép không gỉ. Nhờ đó, máy bay có thể chịu ma sát mạnh với không khí khi đạt vận tốc cực cao, 3.200km/g với 4 động cơ phản lực RD36-41.

http://nghiadx.blogspot.com
Máy bay ném bom chiến lược siêu thanh Sukhoi T-4.

Một điểm đột phá nữa thiết kế T-4, máy bay trang bị hệ thống điều khiển Fly-by-wire thay vì dùng hệ thống điều khiển cơ khí dự phòng. Sau này, trong thiết kế Su-27, Sukhoi đã phát triển hệ thống Fly-by-wire dựa trên loại dùng cho T-4. Cùng với T-4, phòng thiết kế OKB-155 tiến hành phát triển tên lửa siêu thanh Kh-45 (tầm bắn 600km, tốc độ Mach 6-7).

>> Số phận hẩm hiu của vũ khí chiến lược T-4

Tháng 8/1972, mẫu thử đầu tiên T-4 101 cất cánh thành công. Tính tới thời điểm tháng 1/1974, T-4 đã thực hiện 10 chuyến bay, đạt tốc độ Mach 1,3 ở trần bay 12.000m.

Mọi chuyện đang tiến triển rất tốt, với thiết kế khí động học ưu việt, sở hữu tốc độ cao, tầm bay xa, vũ khí uy lực, T-4 được hy vọng là “cơn ác mộng” kinh hoàng đối với tàu sân bay. Có thể tiêu diệt mục tiêu ở khoảng cách cực xa nằm ngoài tầm với hệ thống phòng không, tốc độ trần bay vượt tầm tiêm kích.

Tuy nhiên, đầu năm 1974, Ủy ban hàng không nhà nước Liên Xô ra quyết định đình chỉ dự án T-4. Cuối năm 1975, T-4 chính thức bị xóa sổ. Rất bí ẩn, siêu phẩm vũ khí chiến lược của Liên Xô kết thúc mà không có lời giải thích thỏa đáng được đưa ra. Một số ý kiến đưa ra là do T-4 ngốn quá nhiều ngân sách quốc phòng hoặc do Mỹ hủy bỏ dự án XB-70 - đối trọng T-4.

(Theo nguồn :: Báo Đất Việt)

>> Tại sao Mỹ muốn máy bay ném bom mới? (kỳ 1)

Từ nhiều năm nay, Mỹ đã nỗ lực phát triển máy bay ném bom tầm xa mới. Với năng lực chống tiếp cận ngày càng cao của Trung Quốc, Mỹ thực sự cần phương tiện này.


Nhiều năm qua, Không quân Mỹ đã nỗ lực phát triển một loại máy bay ném bom tầm xa mới để trẻ hóa đội hình đang có sự phục vụ của B-52, B-1 và B-2 từ những năm 1960, 1980 và 1990.

Cùng với đó, sự trỗi dậy của sức mạnh quân sự Trung Quốc thúc bách lực lượng này đạt được khả năng tấn công các mục tiêu được phòng vệ nghiêm ngặt trong lãnh thổ Trung Quốc từ các căn cứ Mỹ ở Thái Bình Dương.


http://nghiadx.blogspot.com
Trung Tướng David Deptula

Tuy nhiên, thiết kế cơ bản của ý tưởng “Máy bay ném bom thế hệ mới” ngày càng trở nên phức tạp và đắt đỏ, với mức giá lên đến hàng tỷ USD cho mỗi thiết kế. Vì vậy, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates đã hủy dự án này vào năm 2009.

Tuy nhiên, Không quân Mỹ vẫn ấp ủ “hồi sinh” dự án này. “Máy bay ném bom tấn công tầm xa mới” có thể sẽ bớt phức tạp hơn, do đó, rẻ hơn so với “Máy bay ném bom thế hệ mới”, chỉ 550 triệu USD và bắt đầu sản xuất từ năm 2020.

Quốc hội Mỹ đã tán thành đầu tư 300 triệu USD ban đầu từ cuối năm 2011. Nhưng "án chém" vẫn lơ lửng với lời đe dọa từ Lầu Năm Góc, theo đó, dự án sẽ bị hủy nếu tổng chi phí vượt quá 55 tỷ USD.

Lockheed Martin, Boeing và Northrop Grumman sẽ cạnh tranh để giành bản hợp đồng này, và chi tiết vẫn nằm trong vòng bảo mật.

Liên quan đến vấn đề này, The Diplomat đã có cuộc phỏng vấn Trung tướng David Deptula người tán thành kế hoạch máy bay ném bom chiến lược mới.

Dưới đây là nội dung cuộc phỏng vấn:

- Tại sao lại là bây giờ? Tại sao, trong thời kỳ cắt giảm chi tiêu quốc phòng, Lầu Năm Góc lại cho phép phát triển, chế tạo một loại máy bay ném bom mới? Điều gì thay đổi khiến chương trình máy bay ném bom trở thành ưu tiên hàng đầu như vậy?

- Nói một cách đại thể, không có gì thay đổi. Nhu cầu có một loại máy bay ném bom mới không phải là mới. Bản báo cáo Quốc phòng bốn năm một lần (QDR) năm 2001 đã nhấn mạnh các thách thức đối với sức mạnh Mỹ, gồm: khả năng xảy ra một cuộc tấn công bất ngờ có thể ngăn chặn các lực lượng Mỹ không triển khai được tại các điểm chiến sự trong thời gian cho phép; sự khan hiếm các cơ sở của Mỹ trong phạm vi gần với các điểm chiến sự tại châu Á; sự nổi lên của các “thế lực” chống tiếp cận có thể chặn Mỹ không tiếp cận được với các trụ sở, các căn cứ không quân và hải quân ở nước ngoài. Thêm vào đó, một số đối thủ tiềm tàng ẩn chứa năng lực chiến lược lớn, có thể giấu các hệ thống chống tiếp cận di động.

Để đối phó với điều này, QDR 2001 cho rằng chúng ta nên phát triển và rèn luyện “các khả năng tiến hành giám sát liên tục, tấn công chính xác và triển khai quân ở mọi trình độ trong các khu vực hạn chế”, liệu điều này ám chỉ điều gì khác ngoài một loại máy bay ném bom tàng hình mới?

QDR 2006 nhắc lại những thách thức trên đối với dự án tăng cường sức mạnh và đặc biệt kêu gọi Mỹ “phát triển khả năng tấn công tầm xa sắc xảo, neo đậu trên đất liền đến năm 2018, đồng thời hiện đại hóa lực lượng máy bay ném bom hiện tại”.

QDR 2010 kêu gọi mở rộng năng lực tấn công tầm xa của Mỹ, gồm những lựa chọn cho “giám sát tầm xa và máy bay tấn công như một phần của kế hoạch hiện đại hóa lực lượng ném bom một cách toàn diện, theo từng giai đoạn”.

Bản Hướng dẫn Chiến lược Quốc phòng tháng 1/2012 rất phù hợp với logic của Bộ Quốc phòng Mỹ 12 năm trước, qua hai đời Tổng thống và ba Bộ trưởng Quốc phòng, đã thấy được sự cần thiết phải phát triển một loại máy bay ném bom mới.

Bản hướng dẫn một lần nữa nhấn mạnh các thách thức hiện tại, các mối đe dọa chống tiếp cận và khoảng cách bởi các thế lực chống Mỹ, chắc chắn, môi trường chiến lược không trở nên ôn hòa hơn kể từ năm 2001.

Bản hướng dẫn lặp lại lời kêu gọi về việc phát triển một loại máy bay ném bom tàng hình nhằm vượt qua các thách thức trên.

Tầm quan trọng về chính trị và kinh tế của khu vực châu Á-Thái Bình Dương tiếp tục gia tăng. Hiển nhiên, diện tích tại châu Á rất rộng lớn, các căn cứ được đảm bảo của Mỹ tại đây khá ít và kẻ địch tiềm tàng lại có trong tay các hệ thống chống tiếp cận hiện đại.

Vì vậy, để có một vị thế quân sự hiệu quả trong khu vực, chúng ta cần tái cân bằng danh mục vốn đầu tư quân sự như bản hướng dẫn đã chỉ ra, nhắm vào các hệ thống đáp trả cao, tầm xa như máy bay ném bom tàng hình.

Có người cho rằng, khủng hoảng tài chính hiện thời và việc cắt giảm chi tiêu quốc phòng khiến dự án này trở nên “quá sức”. Cách thức làm ăn cũ, chậm chạp xây dựng một số lượng “khủng” các lực lượng trên mặt đất, không còn hiệu quả trong môi trường ngân quỹ bị gò bó, vì họ không thể hỗ trợ các khái niệm hành động mới của Lầu Năm Góc như học thuyết không-hải chiến và khái niệm tiếp cận hoạt động chung.

Nếu chúng ta chỉ đơn giản giảm những gì chúng ta có trong khi vẫn duy trì sự cân bằng tương đối giữa các dịch vụ quốc phòng thì khả năng vạch ra kế hoạch cho một nguồn sức mạnh mới sẽ khó mà hình thành.

Chúng ta không thể duy trì được sức mạnh ở châu Á nếu sử dụng các phương thức cũ, vì vậy, chúng ta cần thực hiện bằng các cách thức mới, như một loại máy bay ném bom tàng hình chẳng hạn.

- Văn phòng Quản lý và Ngân sách Mỹ (OMB) mới đây khẳng định rằng các máy bay ném bom hiện tại vẫn đủ khả năng thực hiện các nhiệm vụ trong thời gian dài. Liệu điều này đã thay đổi? Hay có phải Bộ Quốc phòng đã phải thuyết phục OMB rằng máy bay hiện tại không còn phù hợp?

Phát ngôn của OMB thực sự là một cái gì đó dị thường: OMB không có năng lực quân sự và không nên nhận định về vấn đề này.

Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng và Lực lượng Không quân kiên định đề đạt từ năm 2006 đến 2009 rằng lực lượng này cần một loại máy bay ném bom mới, tiếp đến từ tháng 4/2009 đến nay, họ cũng đề đạt nguyện vọng này.

Bộ Quốc phòng (DoD) lấy lý do rằng B-1 và B-52 đã “già” và không có chức năng tàng hình, còn B-2 mặc dù có tàng hình lại mới chỉ có một số lượng nhỏ. Chỉ một tháng sau đề xuất ngân sách tháng 4/2009, Bộ trưởng Gates cho biết, ông đang cân nhắc tạo ra máy bay ném bom thế hệ tiếp theo không người lái và tất nhiên ông đã không đề cập đến một loại máy bay ném bom thế hệ mới nếu ông nghĩ rằng những chiếc máy bay ném bom hiện tại vẫn thích hợp để hoạt động trong một thời gian dài tới.

Năm 2010, cả “Thứ trưởng” Không quân Michael Donley và Tham mưu trưởng Không quân Norton Schwartz đều khẳng định rằng, một loại máy bay ném bom tàng hình mới là cần thiết, và Bộ trưởng Gates cho rằng Không quân cần “một loại máy bay ném bom hạt nhân tầm xa mới”, có thể có người lái hoặc không.

Ông cũng cho rằng chúng ta cần bắt đầu dự án này ngay hôm nay để “đảm bảo một loại máy bay ném bom mới có thể sẵn sàng trước khi các phi đội “già nua” đến thời kỳ ngừng hoạt động”.

Rõ ràng, ông Gates đã dừng chương trình từ tháng 4/2009 không phỉa vì không cần một loại máy bay ném bom mới mà vì ông tìn rằng cần xem xét lại về loại máy bay và Không quân Mỹ cần là gì.

Đây là căn nguyên của cái gọi là phương pháp “các hệ thống của gia đình” (FoS), theo đó máy bay ném bom sẽ là “đòn bảy” (thực hiện nhiệm vụ tình báo, giám sát và trinh sát) và hỗ trợ để tăng cường tính hiệu quả hoạt động trong khi giảm thiểu tối đa các yêu cầu chức năng ban đầu, do đó giảm chi phí và các nguy cơ kỹ thuật liên quan đến việc tiếp cận mục tiêu (Khả năng tác chiến ban đầu).

Phương pháp FoS cũng kết hợp chặt chẽ với các phương tiện tấn công tầm xa khác, như máy bay không người lái tấn công ISR tầm xa, có khả năng tự nạp nhiên liệu và vũ khí tầm xa của Lực lượng Không quân (LRSOW), cho phép Mỹ có khả năng tấn công sâu rộng trong bối cảnh “chiến tranh” do thám bền bì trên khắp toàn cầu đang nổi lên hiện nay.