Hiển thị các bài đăng có nhãn Vũ khí hạt nhân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vũ khí hạt nhân. Hiển thị tất cả bài đăng

>> Nhật có thể chế tạo vũ khí hạt nhân trong vòng 183 ngày

Nhật Bản hiện đã trở thành nước sở hữu plutonium cấp vũ khí lớn nhất trên thế giới, trữ lượng nguyên tố plutonium đã vượt kho vũ khí hạt nhân của Mỹ.

>> Tiềm lực quân đội Nhật Bản



Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Tên lửa đẩy H2 của Nhật

Tờ “Nhật báo Bắc Kinh” Trung Quốc vừa có bài viết cho rằng, gần đây Ủy ban Quân sự quốc tế và Giải trì quân bị của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã đưa ra dự thảo nghị quyết nhằm cắt giảm vũ khí hạt nhân. Nhưng khi ủy ban yêu cầu Nhật Bản ký, lại bị Chính phủ Nhật Bản từ chối.

Chuyên gia quân sự Mỹ phân tích cho rằng, hành động này của Nhật Bản là để mở đường cho họ trang bị vũ khí hạt nhân trong tương lai. Mặc dù Nhật Bản là người chịu thiệt hại của bom hạt nhân (bom nguyên tử) trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng họ vẫn chẳng bao giờ quên sở hữu vũ khí hạt nhân.

Có thể chế tạo được vũ khí hạt nhân trong vòng 183 ngày

Theo hãng Kyodo Nhật Bản, cuối tháng 10/2012, tại một cuộc họp báo, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nhật Bản chính thức cho biết, Chính phủ Nhật Bản không đồng ý với dự thảo nghị quyết về cắt giảm vũ khí hạt nhân được 18 nước trong đó có Thuỵ Sĩ kêu gọi tại Liên Hợp Quốc.

Ông giải thích rằng, dự thảo này “hoàn toàn không thống nhất với chính sách an ninh của Nhật Bản”, không thể duy trì tính thống nhất về chính sách an ninh của Nhật Bản…

Động thái này của Nhật Bản hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên. Tháng 6/2012, Quốc hội Nhật Bản thông qua Luật sửa đổi “Luật cơ bản năng lượng nguyên tử”.

Trong phương châm cơ bản nghiên cứu, sử dụng và khai thác năng lượng hạt nhân, dự luật đã bổ sung thêm câu “có lợi cho bảo đảm an ninh của quốc gia”.


Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Nhật Bản có công nghệ hạt nhân phát triển

“Luật cơ bản năng lượng nguyên tử” là luật quy định phương châm nghiên cứu, khai thác, sử dụng năng lượng hạt nhân, trong đó luật này luôn quy định “khai thác năng lượng hạt nhân giới hạn ở mục đích hòa bình”.

Các nhà phân tích lo ngại, 34 năm qua, lần đầu tiên Nhật Bản sửa đổi điều khoản, rất có thể là để mở đường cho ứng dụng năng lượng hạt nhân cho mục đích quân sự. Bởi vì, ở Nhật Bản, bảo đảm an ninh thường được hiểu là “phòng vệ và quân sự”.

Có phân tích cho rằng, hai năm gần đây thế lực cánh hữu Nhật Bản ngày càng phát triển, những lời kêu gọi cần sở hữu vũ khí hạt nhân ngày càng nhiều.

Thị trưởng Tokyo Shihara Jintaro gần đây tuyên bố, Nhật Bản có thể nghiên cứu chế tạo được vũ khí hạt nhân trong vòng 1 năm. Thậm chí, có một số cựu quan chức cấp cao Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản cũng kêu gọi sở hữu vũ khí hạt nhân.

Trên thực tế, một số chính khách Nhật Bản chưa bao giờ ngừng kêu gọi trang bị vũ khí hạt nhân để phòng thủ. Ngay từ tháng 5/1957, Thủ tướng Nhật Bản khi đó là Kishi Nobusuke đã nói rõ ràng rằng, để tự vệ, không loại trừ sở hữu vũ khí hạt nhân.

Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Công nghệ hạt nhân Nhật Bản rất phát triển

Tuy nhiên, một số chuyên gia quân sự cho rằng, Nhật Bản muốn thực sự sở hữu vũ khí hạt nhân là điều không hề dễ dàng, bởi vì họ không chỉ chịu sự trói buộc bởi chế độ “Ba nguyên tắc không sở hữu vũ khí hạt nhân”, sự “kiềm chế” của người dân trong nước, mà Mỹ có lẽ cũng không dễ dàng đồng ý.

James Holmes, giáo sư Học viện Chiến tranh Hải quân Mỹ đã có bài viết trên tạp chí “Nhà ngoại giao” Nhật Bản cho rằng, nhận thức truyền thống và tư duy thông thường đều định vị Nhật Bản là “đối tượng đặc biệt không phổ biến vũ khí hạt nhân”, đồng thời coi Nhật là “quốc gia không thể sở hữu vũ khí hạt nhân nhất”.

Thực ra, hàm ý của nó là, nếu người dân và các nhà lãnh đạo chính trị Nhật Bản giải quyết được vấn đề “phải chăng sở hữu vũ khí hạt nhân”, thì lập tức Nhật Bản có thể đạt được đột phá về chất, trở thành một quốc gia sở hữu hạt nhân thực sự.

Theo tính toán thông thường, Nhật Bản nghiên cứu chế tạo ra vũ khí hạt nhân và đưa vào sử dụng chỉ mất thời gian khoảng 6 tháng đến 1 năm. Các nhà thiết kế bom hạt nhân Nhật Bản hoàn toàn có thể có được thiết bị nổ hạt nhân sơ cấp trong một khoảng thời gian nhất định, nhưng với tư cách là vũ khí hạt nhân sẵn sàng sử dụng trên chiến trường, còn có một khoảng cách thời gian rất dài. Ngay từ năm 1995, tạp chí “Đá quý” Nhật Bản tiết lộ, Nhật Bản có thể chế tạo bom nguyên tử trong 183 ngày.

Dự trữ nguyên liệu hạt nhân vượt Mỹ

Theo quy định của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA), độ tinh khiết uranium hoặc plutonium của nguyên liệu bom hạt nhân đạt 92-93% được gọi là “cấp vũ khí”, nó đạt tới lượng nhất định sẽ có thể gây nổ hạt nhân.

Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Bom nguyên tử/hạt nhân có uy lực mạnh

Thông thường cho rằng, sử dụng 12-16 kg uranium, 6-9 kg plutonium cấp vũ khí thì có thể chế tạo được thiết bị nổ hạt nhân. Nhưng có người cho rằng, sử dụng phương pháp công nghệ cao, sử dụng 1-3 kg plutonium, 2,5-5 kg uranium thì có thể gây nổ hạt nhân.

Hơn nữa, những người có chút ý thức thông thường về hạt nhân đều biết, “plutonium cấp lò phản ứng” có hàm lượng plutonium 239 tương đối thấp, trải qua tinh chế của nhà máy xử lý hậu nhiên liệu hạt nhân, thì có thể trở thành “plutonium cấp vũ khí” cao cấp.

Theo bài báo của TQ tuyên truyền, Nhật Bản luôn lấy cớ điện hạt nhân để tích trữ nguyên liệu hạt nhân. Cuối thập niên 90 của thế kỷ trước, do sức ép của cộng đồng quốc tế và sự phản đối của người dân, Chính phủ Nhật Bản không thể sản xuất hoặc nhập khẩu lượng lớn nguyên tố plutonium, cho nên tìm ra biện pháp biến hóa: lấy tái sử dụng năng lượng làm danh nghĩa, vận chuyển phế liệu hạt nhân đã từng sử dụng ở nhà máy điện hạt nhân tới Tây Âu, sau khi xử lý lấy được plutonium có độ tinh khiết cao, đồng thời “bí mật” đưa nhiều nguyên tố plutonium hơn về nước.

Từ năm 1999-2005, Nhật Bản mỗi năm vận chuyển từ Tây Âu về nước khoảng 900 kg plutonium, vượt xa lượng thu về từ tái xử lý phế liệu hạt nhân. Nếu lấy 900 kg plutonium sử dụng toàn bộ cho chế tạo bom hạt nhân, có thể sản xuất 60 quả bom hạt nhân hàng năm.

Theo tính toán của chuyên gia Mỹ, Nhật Bản hiện đã trở thành nước sở hữu plutonium cấp vũ khí lớn nhất trên thế giới, trữ lượng nguyên tố plutonium của họ đã vượt số lượng 100 tấn trong kho vũ khí hạt nhân của Mỹ, có thể sản xuất hàng chục nghìn quả bom hạt nhân, đồng thời đang tăng lên với tốc độ khoảng 5 tấn mỗi năm.

Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com

Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Hiroshima hoang tàn sau khi bị Mỹ thả bom nguyên tử

Nhật Bản sở hữu công nghệ lò phản ứng tái tạo, công nghệ này luôn là trọng điểm và khó khăn trong nghiên cứu công nghệ hạt nhân. Sự phức tạp của công nghệ xây dựng lò phản ứng tái tạo và việc đầu tư khổng lồ cho nó vượt xa phát triển vũ khí hạt nhân, nó từng làm cho một số nước buộc phải chấm dứt chương trình xây dựng.

Nhưng, trong 10 năm, Nhật Bản không ngại bỏ ra 6 tỷ USD đầu tư, xây dựng được lò phản ứng tái tạo neutron “Monju”, đồng thời vào tháng 8/1995, thử vận hành phát điện thành công.

Đồng thời, Nhật Bản còn sở hữu công nghệ phản ứng nhiệt hạch hạt nhân tiên tiến nhất thế giới, đây là công nghệ then chốt trong nghiên cứu chế tạo bom nguyên tử.

Hiện nay, Nhật Bản có khả năng nổ bom hạt nhân mô phỏng trên máy tính siêu mạnh. Về công nghệ, thử hạt nhân mô phỏng trên máy tính có ý nghĩa to lớn đối với việc tiếp tục nghiên cứu chế tạo và hoàn thiện vũ khí hạt nhân kiểu mới.

Theo bài báo, Nhật Bản đã nghiên cứu thành công máy tính siêu tốc với tốc độ tính toán đạt 600 tỷ lần/giây, hoàn toàn có khả năng tiến hành thử nghiệm mô phỏng máy tính đối với nổ hạt nhân.

Khả năng chế tạo bom hạt nhân rất mạnh

Do đầu đạn của tên lửa đạn đạo bay lên độ cao vài trăm đến vài nghìn km, quay trở về bầu khí quyển với tốc độ cao, môi trường bay rất khắc nghiệt, rất nhiều nước sở hữu tên lửa đạn đạo đều giậm chân tại chỗ do không thể vượt qua trở ngại công nghệ này. Trong khi đó, trên lĩnh vực có liên quan, Nhật Bản có ưu thế công nghệ được thế giới công nhận.

Tên lửa xuyên lục địa, tầm trung, tầm xa đi vào bầu khí quyển với tốc độ 4,3-7,3 km/giây và góc chếch 40-200, đầu đạn tên lửa ở xa có thể nóng lên tới 3.000-4.000 0C, đầu đạn tên lửa xuyên lục địa nóng bằng bề mặt Mặt Trời là 6.000-10.000 0C. Phải chịu môi trường khắc nghiệt, cần có vật liệu tốt.

Vào thập niên 60 của thế kỷ 20, từng sử dụng hợp kim wolfram có điểm nóng chảy cao nhất để chế tạo mũi đầu đạn. Nhưng, điểm nóng chảy của hợp kim wolfram cũng không quá 3.500 0C, hơn nữa độ dày rất lớn, sớm bị loại bỏ.

Năm 1969, Công ty Toray Nhật Bản sản xuất được lô sợi carbon có độ bền cao trên thế giới. Khởi đầu từ đó, Nhật Bản sau này đã chế tạo được vật liệu chịu nhiệt tốt.

Với ưu thế công nghệ trong lĩnh vực vật liệu composite carbon/carbon, có thể cho rằng, một khi Nhật Bản đưa ra quyết định, họ sẽ rất nhanh chế tạo được đầu đạn hạt nhân của tên lửa tầm trung, tầm xa và tên lửa đạn đạo xuyên lục địa.

Ngoài vấn đề chịu nhiệt, đầu đạn của tên lửa đạn đạo hiện đại còn đối mặt với 2 vấn đề khó là kiểm soát độ chính xác điểm rơi (tức dẫn đường chính xác, dẫn đường đầu cuối) và chống đánh chặn (tức đột phá phòng thủ/phòng không).

Mọi người đều biết, trên 2 lĩnh vực này, Mỹ dẫn trước thế giới, nhưng họ thường dựa vào Nhật Bản nhập khẩu công nghệ và linh kiện điện tử có độ chính xác cao.

Mùa hè năm 1985, sau khi thực hiện “Chiến tranh giữa các vì sao” (Star Wars) không lâu, Mỹ yêu cầu cơ quan nghiên cứu công nghệ của Cục Phòng vệ Nhật Bản cung cấp thiết bị tìm kiếm hình ảnh của Công ty Toshiba. Loại thiết bị này có thể không bị tia hồng ngoại và radar gây nhiễu, có hiệu quả hơn phương pháp định vị, theo dõi thông thường.

Từ những thiết bị, công nghệ mà Mỹ mua của Nhật Bản (như thiết bị gallium arsenide, công nghệ sub-micron, công nghệ nhận biết hình ảnh…) ta có thể nhận thấy, Nhật Bản có thực lực to lớn cả về “dẫn đường chính xác” và “đột phá phòng không/thủ”.

Đứng đầu thế giới về công nghệ đẩy đầu đạn hạt nhân

Từ thập niên 50 của thế kỷ 20, Nhật Bản đã bắt đầu nghiên cứu chế tạo tên lửa đẩy hiện đại. Tháng 2/1970, họ sử dụng tên lửa thể rắn lớp 3 L-4S đưa vệ tinh Osumi nặng 24 kg vào vũ trụ, trở thành quốc gia thứ tư sử dụng tên lửa đẩy của mình để phóng vệ tinh.

Sau khi nhập công nghệ tên lửa Delta tiên tiến của Mỹ vào thập niên 70 của thế kỷ 20, Nhật Bản đẩy nhanh các bước phát triển sự nghiệp không gian. Hơn 20 năm qua, họ đã sử dụng 11 loại tên lửa loạt L, M, N, H, J5, đã phóng hơn 50 vệ tinh với các quỹ đạo khác nhau, trở thành một nước lớn không gian có thực lực hùng hậu.

Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Nhật Bản sở hữu công nghệ tên lửa đẩy dẫn trước thế giới

Các hoạt động phóng thường xuyên đã giúp Nhật Bản tích lũy được kinh nghiệm phong phú và đạt trình độ hàng đầu thế giới trên các phương diện như lĩnh vực tên lửa thể rắn (gồm thuốc phóng/nhiên liệu đẩy của động cơ, công nghệ ống phun/nozzle, vật liệu) và công nghệ kiểm soát, phóng tên lửa.

Giữa “tên lửa đẩy không gian thể rắn” và “tên lửa đạn đạo thể rắn” rất gần gũi về công nghệ. Nếu lấy vệ tinh (được tên lửa đẩy mang theo) thay thế bằng đầu đạn của tên lửa hoặc bom hạt nhân, thay đổi quỹ đạo bay, nó sẽ trở thành tên lửa đạn đạo hoặc tên lửa hạt nhân có thể tấn công các mục tiêu mặt đất. Các chủng loại tên lửa thể rắn của Nhật Bản tương đối nhiều, có thể tạo thành các loại tên lửa tầm ngắn, tầm trung, tầm xa và xuyên lục địa.

Có thể thấy, Nhật Bản hoàn toàn có khả năng chế tạo vũ khí hạt nhân, không thể coi nhẹ những lời kêu gọi “răn đe hạt nhân” của các chính khách Nhật Bản trong những năm qua, mà cần quan tâm đến các động thái phát triển vũ khí hạt nhân của Nhật Bản.

Mấy chục năm qua, một loạt các nhà khoa học và nhân viên kỹ thuật Nhật Bản, được trưởng thành nhờ phát triển điện hạt nhân dân dụng, đã tận dụng nền tảng công nghiệp hạt nhân và ưu thế công nghệ cao, tiến hành những công việc (mà các nước công nghiệp hóa bình thường không theo kịp) trên lĩnh vực phản ứng nhiệt hạch hạt nhân có liên quan chặt chẽ tới bom hạt nhân thế hệ thứ hai, thậm chí họ có kế hoạch đổ bộ lên Mặt Trăng trong thế kỷ 21, thu lấy đê-u-tri-um (deuterium) và tri-ti-um (tritium, T) có trữ lượng phong phú trên Mặt Trăng, mà việc kết hợp phản ứng hỗn hợp và phản ứng phân tách giữa đê-u-tri-um và tri-ti-um có thể chế tạo ra bom khinh khí (bom Hy-đrô).

Nhật Bản sở hữu vũ khí hạt nhân sẽ nâng cao khả năng răn đe chiến lược

Báo Trung Quốc viết, sở hữu vũ khí hạt nhân là một sự cấm kị lớn của Nhật Bản, rất nhiều chính khách cấp tiến của Nhật Bản lại đang tìm cách phá đi sự cấm kị này, cho rằng trang bị vũ khí hạt nhân có thể nâng cao khả năng răn đe chiến lược cho Nhật Bản, đồng thời cũng là một vấn đề rất có thể diện.

Nhưng, một bản báo cáo nghiên cứu tuyệt mật của Chính phủ Nhật Bản cho rằng, Nhật Bản không phải là không thể mà là không dám sở hữu vũ khí hạt nhân, bởi vì sở hữu vũ khí hạt nhân sẽ nguy hiểm hơn 1.000 lần so với không sở hữu vũ khí hạt nhân.

Nhật Bản nghiên cứu chế tạo vũ khí hạt nhân trước hết sẽ bị nhìn nhận về ngoại giao, đối với một nước thiếu thốn tài nguyên như Nhật Bản, đây là điều không thể chịu đựng được. Chỉ cần cộng đồng quốc tế tiến hành trừng phạt và phong tỏa thương mại đối với Nhật Bản, nền kinh tế Nhật Bản sẽ khó khăn - báo TQ nhận định.

Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Tên lửa đẩy H2 của Nhật Bản

Tuy nhiên, để điều này xảy ra hoàn toàn khó có căn cứ, hơn nữa người Nhật Bản luôn biết mình là ai.... Bao TQ cho rằng, nếu bị phong toả, không có dầu mỏ thì máy bay, xe tăng sẽ không hoạt động được, sẽ không tiến hành được chiến tranh hiện đại, càng chưa nói đến chiến lược hạt nhân.

Đồng thời, nghiên cứu chế tạo lượng lớn vũ khí hạt nhân cần động viên đông đảo nhân viên kỹ thuật của cả nước và sự ủng hộ của người dân, đây cũng là khó khăn rất lớn của Nhật Bản, trong khi đó lượng vũ khí hạt nhân ít thì không thể tạo ra được khả năng răn đe.

Ngoài ra, diện tích lãnh thổ Nhật Bản hẹp là điểm yếu trong răn đe chiến lược hạt nhân của Nhật Bản. Một khi xảy ra chiến tranh hạt nhân với nước khác, một đất nước không có chiều sâu chiến lược như Nhật Bản sẽ bị thiệt hại nặng chỉ bằng vài quả bom hạt nhân.

Vì vậy, thành viên cốt lõi tham dự nghiên cứu vũ khí hạt nhân của Chính phủ Sato Eisaku trước đây, giáo sư danh dự Đại học Sophia, ông Rōyama Michio từng nói: “Trong những người ‘tham gia nghiên cứu vũ khí hạt nhân’, không có ai tích cực cổ vũ cho trang bị vũ khí hạt nhân. Bởi vì, Nhật Bản căn bản không có điều kiện cần thiết để xây dựng khả năng chiến đấu hạt nhân với các nước lớn. Điều quan trọng hơn là, vũ khí hạt nhân là hạ sách, lựa chọn vũ khí hạt nhân chính là lựa chọn đối đầu với tất cả các nước. Thà nói là trở ngại Hiến pháp, còn hơn là nói về địa-chính trị không cho phép chúng ta như vậy”.

(Báo Trung Quốc)

>> Hồ sơ vũ khí hạt nhân Trung Quốc (Kỳ 1)

Trung Quốc là quốc gia sở hữu kho vũ khí hạt nhân lớn thứ ba trên thế giới. Vậy nước này đã dùng phương cách gì để đạt được thành tựu đó?

>> Lộ diện vũ khí hạt nhân chiến lược của Trung Quốc



Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Cha đẻ bom nguyên tử Trung Quốc Tiền Tam Cường.
“Không thể bằng lòng khi không có vũ khí hạt nhân”

Dù là người đi sau, nhưng với phương châm bằng mọi cách, dốc toàn bộ trí và lực để đạt được mục đích của mình, vậy chúng ta biết gì về “hành trình” đến với vũ khí nguyên tử của Trung Quốc?

Ngay từ những năm đầu thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, các nhà lãnh đạo quân sự và chính trị nước này đã ý thức rằng, Trung Quốc cần phải có một lực lượng vũ trang mạnh với vũ khí hiện đại, bao gồm vũ khí hạt nhân.

Mao Trạch Đông từng tuyên bố: “Trong thế giới ngày nay chúng tôi không thể bằng lòng khi không có nó (vũ khí hạt nhân)…, thế giới phương Tây tỏ thái độ coi thường Trung Quốc bởi vì chúng tôi không có bom nguyên tử, chỉ có lựu đạn”.

Để thực hiện tham vọng sở hữu vũ khí hạt nhân, đầu năm 1950, Trung Quốc thành lập Viện Hàn lâm Khoa học và Tiền Tam Cường trở thành Phó Giám đốc đầu tiên của Viện này. Ông này được coi là cha đẻ của bom nguyên tử Trung Quốc.

Vậy, Tiền Tam Cường là ai? mùa hè năm 1937, Tiền Tam Cường được Bắc Kinh đưa đi nghiên cứu sinh ở Viện radium, ĐH Paris. Sự nghiệp nghiên cứu khoa học của ông được nhà khoa học Frederic Joliot-Curie dẫn dắt.

Năm 1940, Tiền Tam Cường đã bảo vệ thành công luận án của mình và tiếp tục làm việc ở Pháp. Từ những thành tích xuất sắc của mình, năm 1947, nhà khoa học này đã được trao giải thưởng của Viện Hàn Lâm Khoa học Pháp. Năm sau ông trở về Trung Quốc.

Ngoài Tiền Tam Cường, dự án phát triển hạt nhân của Trung Quốc cũng có sự tham gia của hàng trăm nhân tài hoa kiều. Trong số họ phải kể đến hai nhà vật lý Ganpan Wang và Zhao Zhongyang từ ĐH Illionois, sau nhiều năm sinh sống ở nước ngoài đã có mặt tại Trung Quốc trong thời kỳ đầu của dự án phát triển hạt nhân. Chính họ đã mang rất nhiều bí mật hạt nhân và những kinh nghiệm đúc rút từ thực tế ở nước ngoài về cho quê hương.

Mùa xuân năm 1953, đoàn đại biểu của Viện hàn lâm Khoa học Trung Quốc có chuyến “công du” đến Liên Xô để mở rộng kiến thức về công nghệ hạt nhân.

Chuẩn bị đón đoàn khách Trung Quốc, Chủ tịch Viện hàn lâm Khoa học Liên Xô, Viện sĩ Alexamder Nesmeyanov đã khuyên các cơ quan có thẩm quyền phải cận trọng khi làm việc với phái đoàn Trung Quốc và Tiền Tam Cường, chỉ giới thiệu một số công trình khoa học có tính chất chung chung mà không giới thiệu vấn đề định hướng.

Tháng 10/1954, lần đầu tiên Mao Trạch Đông đề nghị Moscow giúp Bắc Kinh chế tạo vũ khí hạt nhân nhân dịp Nikita Khushchev viếng thăm Bắc Kinh. Khi đó, Khushchev đã không đưa ra bất kỳ lời hứa đảm bảo nào, hơn nữa Nikita Khushchev còn khuyên Mao Trạch Đông nên từ bỏ dự án hạt nhân vì Trung Quốc chưa có nền tảng khoa học kỹ thuật, công nghiệp và tiềm lực kinh tế cần thiết.

Cũng trong thời gian ấy, niềm tin của các nhà lãnh đạo quân sự và chính trị Trung Quốc về sự cần thiết sở hữu vũ khí hạt nhân ngày càng lên cao, nhất là trong bối cảnh nước này tham gia cuộc chiến ở Triều Tiên (1950-1953) và xung đột Trung - Mỹ leo thang ở eo biển Đài Loan (năm 1958).

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã nhận thức mối đe dọa từ phía Mỹ khi họ có thể sử dụng bom nguyên tử, chính vì thế, tại cuộc họp mở rộng của ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ngày 15/1/1955, Mao Trạch Đông đã đưa ra chỉ thị: Trung Quốc phải phát triển bom nguyên tử với sự giúp đỡ của Liên Xô hoặc là không có sự tham gia của Liên Xô.

Khrushchev nhượng bộ

Nhằm tăng cường nguồn tài nguyên uranium thô (sẽ nhận được theo cam kết từ phía Trung Quốc trong trao đổi để giúp đỡ về việc thăm dò uranium) ngày 20/1/1955, Liên Xô nhất trí ký thỏa thuận với Trung Quốc về kế hoạch cùng nhau nghiên cứu địa chất ở Tân Cương và phát triển mỏ uranium.

Việc tìm kiếm mỏ uranium, ngoài sự tham gia của các chuyên gia Liên Xô và Trung Quốc còn có một số nhà khoa học đến từ Đông Âu. Địa điểm đầu tiên tìm thấy nguồn trữ lượng uranium là ở khu vực Tây - Bắc Trung Quốc (Tân Cương) và nơi đây cũng đã bắt đầu triển khai công tác khai thác mỏ từ năm 1957.


Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông (trái) và Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Khruschev.

Tiếp theo, ngày 7/4/1956, hai bên đã ký một thỏa thuận. Theo đó, Liên Xô sẽ cung cấp viện trợ để xây dựng các công trình dân sinh và quân sự, gồm tuyến đường sắt từ Aktoga đến Lanzhuo (Lan Châu) để chuyên chở các trang thiết bị của Trung tâm thử nghiệm vũ khí nguyên tử đầu tiên ở Lop Nor.
Mùa đông 1956, Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định “phát triển năng lượng hạt nhân”. Trong dự án này có hai lĩnh vực cơ bản, chế tạo tên lửa chiến lược và vũ khí nguyên tử. Từ năm 1956-1967, tất cả các tinh hoa của nền khoa họcTrung Quốc và hơn 600 nhà khoa học Liên Xô đã làm việc theo kế hoạch phát triển khoa học đầy tham vọng này.

Kế hoạch này gồm phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử vào mục đích hòa bình, nghiên cứu công nghệ phản lực, chế tạo công nghệ bán dẫn và phát triển máy tính …Để thực hiện những kế hoạch này, Bắc Kinh yêu cầu Liên Xô và các nước “hỗ trợ một cách toàn diện và nhanh chóng”.

Ngoài ra, thời gian đó, Liên Xô đã cam kết xây dựng hàng trăm nhà máy công nghiệp Quốc phòng ở Trung Quốc. Tuy nhiên, điều mà Bắc Kinh muốn Liên Xô giúp đỡ đầu tiên đó là việc phát triển trong lĩnh vực hạt nhân và quốc phòng. Tình hình bất ổn ở Ba Lan và Hungary xảy ra năm 1956 cũng khiến cho Khrushchev rất cần sự hỗ trợ từ phía Trung Quốc về mặt chính trị, do đó đã quyết định mở rộng hợp tác với Trung Quốc. Trước đó Khrushchev vừa trải qua cuộc “sàng lọc” nội bộ với Molotov và những người thân cận, chính vì thế Khrushchev muốn Mao có mặt trong Đại hội Đảng Cộng Sản tại Moscow năm 1957. Khrushchev muốn thành công trong quan hệ với Trung quốc để tăng cường vị thế của mình ở Liên Xô, và nhà lãnh đạo Trung Quốc đã rất khôn khéo sử dụng tình thế này. Mao tuyên bố sẽ đến Liên Xô chỉ sau khi ký kết thỏa thuận kỹ thuật - quân sự, bao gồm cả việc chuyển giao nguyên liệu và mô hình để Trung quốc sản xuất vũ khí nguyên tử. Vì thế, ngày 15/10/1957, Trung - Xô đã đặt bút ký thỏa thuận chuyển giao công nghệ sản xuất vũ khí hạt nhân cho Trung Quốc. Moscow chỉ từ chối chuyển giao các tài liệu liên quan đến xây dựng tầu ngầm hạt nhân.

Theo phương tiện truyền thông Trung Quốc, khi đó Liên Xô cũng đã cung cấp hai mẫu tên lửa tầm ngắn đất đối đất cho phía Trung Quốc. Đây là cách mà người Trung Quốc đạt được mục đích tiếp cận với công nghệ chế tạo vũ khí hạt nhân của Liên Xô. Cũng từ đó, bắt đầu từ năm 1958, Trung Quốc sẽ là nơi đến của các nhà khoa học hạt nhân Liên Xô. Trong giai đoạn 1950-1960, đã có khoảng 10.000 các chuyên gia ngành công nghiệp hạt nhân Liên Xô đến làm việc tại Trung Quốc, với sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, đã lựa chọn, xây dựng bãi thử nghiệm hạt nhân Lop Nor.

Vào tháng 9/1958, các nhà khoa học Liên Xô đã giúp đỡ để khởi động lò phản ứng thí nghiệm hạt nhân nước nặng đầu tiên của Trung Quốc và xây dựng máy gia tốc thực nghiệm. Đồng thời Liên Xô đã tiếp nhận và đào tạo 11.000 chuyên gia và 1.000 nhà bác học cho Trung Quốc.

>> Lộ diện vũ khí hạt nhân chiến lược của Trung Quốc

Một trong những loại vũ khí chiến lược của Trung Quốc cho đến năm 2040 là tên lửa DF-31 và tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm JL-2.

>> Tàu ngầm Trung Quốc tập trung gần Vịnh Bắc Bộ
>> 6 hệ thống tên lửa đang là tiêu điểm của thế giới
>> Vệ tinh Mỹ bị đe đọa bởi tên lửa hạt nhân TQ



http://nghiadx.blogspot.com
Tên lửa đạn đạo liên lục địa Trung Quốc DF-31.


Hướng phát triển cũng như tốc độ phát triển các loại tên lửa chiến lược của Trung Quốc trong thế kỉ 21 luôn là một chủ đề hào hứng và hóc búa đối với các chuyên gia quân sự thế giới. Trung Quốc đã vận dụng rất nhiều những tiêu chuẩn để bảo đảm bí mật quân sự và Liên Xô trước đây đã gặp phải một vấn đề nan giải trong việc đánh giá khả năng quân sự và xu hướng phát triển lực lượng vũ trang cũng như vũ khí của Trung Quốc.

DF-31 là một trong những thành tựu nổi bật trong kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc. Công cuộc nghiên cứu loại tên lửa này bắt đầu từ giữa những năm 80, với mục đích thay đổi tên lửa thế hệ đầu của TQ là DF-4. Quá trình nghiên cứu được đặt trong 4 bức tường của Học viện hàng không vũ trụ số 4 và Viện Khoa học - cải tiến thuộc Quân đoàn pháo binh số 2. Ngay từ đầu, các nhà khoa học Trung Quốc đã được giao nhiệm vụ phải tạo ra được bệ phóng di dộng cho loại tên lửa này, giống như Nga đã làm với tên lửa đạn đạo liên lục địa Topol.

Một trong những thách thức lớn nhất đối với các nhà khoa học Trung Quốc là phải tạo ra nhiên liệu hỗn hợp rắn cho tên lửa. Đây cũng là lý do lần phóng thử đầu tiên của loại tên lửa này hồi đầu những năm 1990 bị trì hoãn nhiều lần.

Cho đến tận giữa những năm 1990, những thành tựu bước đầu trong quá trình nghiên cứu mới được ghi nhận (năm 1995, Trung Quốc lần đầu tiên đã tiến hành lần phóng thử trên bãi phóng, tuy nhiên kết quả không được công bố).

Đến 2/8/1999, hãng thông tấn Xinhua mới công bố cho toàn thế giới kết quả thử nghiệm thành công của loại tên lửa đạn đạo liên lục địa này. Lần phóng thử này được thực hiện tại bãi phóng của tỉnh Thượng Hải. Tháng 1/2001, cuộc thử nghiệm lần thứ 3 đã được tiến hành.

Tháng 1/10/1999, trong lễ mít tinh kỉ niệm 50 năm ngày thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, họ đã “khoe” loại tên lửa mới này. Trên quảng trường Thiên An Môn, 3 chiếc xe HY473 cùng với container phóng có chứa tên lửa mới diễu qua lễ đài. Mọi người tin rằng đây chính là bệ phóng di động dạng sơ khởi. So với bệ phóng của tên lửa Topol thì những chiễc xe này chưa thể gọi là một hệ thống chiến đấu hoàn thiện được.

Một vài năm trước đây, giới tình báo quân sự phương Tây đã thấy những chiếc xe 6 trục, có khả năng vượt chướng ngại vật, MAZ-547B của Belarus có mặt tại Trung Quốc. Đây là bệ phóng di dộng cho tên lửa tầm trung Pioner. Theo Hiệp ước về loại trừ tên lửa tầm gần và trung đã được kí giữa Nga và Mỹ, tên lửa tầm trung, với tư cách là một loại vũ khí chiến lược đã bị loại trừ từ năm 1990.

Người ta cho rằng có khoảng 6 chiếc xe MAZ-547B được đưa đến Trung Quốc và thậm chí, Trung Quốc đã chuẩn bị để sản xuất hàng loạt loại xe này. Tuy nhiên, không có bất cứ một thông tin đáng tin cậy nào được đưa ra. Cũng đã từng có thông tin rằng Trung Quốc đã làm hẳn đường ray cho tên lửa DF-31, nhưng cũng như nhiều thông tin khác, tin này nhanh chóng bị rơi vào quên lãng.

DF-31 là một trong những bí mật quân sự lớn nhất của Trung Quốc. Người ta cho rằng đây là loại tên lửa 3 tầng, dùng nhiên liệu rắn, dài 13m, có đường kính 2,25m, có trọng lượng khoảng 42 tấn. Nó được lắp một hệ thống dẫn đường quán tính bên trong. Độ chính xác khi bắn là vào tầm từ 100m đến 1 km, nhưng hầu hết các chuyên gia cho rằng con số này vào khoảng 300m.

Tên lửa có thể mang được đầu đạn hạt nhân nặng 1 tấn hoặc 3 đầu đạn có hệ thống dẫn đường riêng biệt, với trọng lượng từ 20 đến 150 kg. Về trọng lượng vật mang theo, tên lửa này gần giống Topol và Topol-M. Thời gian khai triển DF-31 mất khoảng từ 15 đến 30 phút. Có vẻ như, cũng giống như Topol, DF-31 sử dụng kiểu khởi động lạnh ( tên lửa sẽ được phóng ở độ cao 30m bằng áp lực do máy phát điện hơi nước tạo ra).

Theo báo chí, Trung Quốc đang phát triển biến thể cải tiến cho DF-31, là DF-41, với mục tiêu nâng cao tầm xa của tên lửa: từ 8.000 lên 12.000 km.

Ngoài ra, họ cũng đang tìm cách hoàn thiện bệ phóng di động cho loại tên lửa này. Nếu thành công, Trung Quốc có thể gây nguy hiểm cho toàn bộ lãnh thổ Mỹ. Đây cũng là một vũ khí quan trọng trợ lực cho Trung Quốc trong cuộc chiến dành ngôi vị bá chủ thế giới.

Dựa trên công nghệ của DF-31, Trung Quốc đã tiến hành chế tạo biến thể hải quân cho loại tên lửa này, có tên JL-2. Tên lửa JL-2 sẽ được trang bị cho tàu ngầm hạt nhận mang tên lửa đạn đạo Type 094. Chương trình này có tên “Tường thành Trung Quốc trên biển”. Mục tiêu của dự án này là tạo ra từ 4 đến 7 tàu ngầm có mang tên lửa đạn đạo liên lục địa. Nếu sở hữu những loại tàu này thì Mỹ hoàn toàn nằm trong tầm ngắm của tên lửa Trung Quốc, mà không phải đối mặt với hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ và Nhật Bản.

Hiện nay, lực lượng tàu ngầm hạt nhân của Trung Quốc chỉ mới có một loại tàu là Xia. Trong quá trình nghiên cứu và sản xuất loại tàu này, Trung Quốc đã gặp vô vàn khó khăn cả về công nghệ và kỹ thuật. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến họ không thể sản xuất được hàng loạt tàu ngầm hạt nhân cùng loại.

Tàu ngầm Xia mang tên lửa đạn đạo JL-1 với tầm bắn vào khoảng 1700 km, có khả năng mang đầu đạn hạt nhân có trọng lượng 1-2.000kg. Tuy nhiên loại tàu này đã khá lỗi thời. Theo thông tin mà tình báo hải quân có được thì tàu này chưa hề thực hiện một cuộc tuần tra đúng nghĩa nào cả.



http://nghiadx.blogspot.com
Một cuộc phóng thử tên lửa đạn đạo JL-1

Có vẻ như Trung Quốc đã đúng khi không cố gắng chế tạo tàu ngầm và tên lửa thế hệ cũ. Thay vào đó, họ đặt hi vọng vào thế hệ tàu ngầm Type 094 và tên lửa mới JL-2. Những tàu này sẽ có khả năng mang 16 tên lửa JL-2 với tầm bắn khoảng từ 7.500-8.000 km. Có thể chúng sẽ được trang bị 3 đầu đạn hạt nhân có hệ thống dẫn đường riêng biệt. Tất nhiên để làm được điều này thì Trung Quốc cần cải tiến rất nhiều về công nghệ và kỹ thuật.

Vậy, tại sao Trung Quốc lại đi theo con đường của Nga, khi lấy tên lửa với bệ phóng di động làm hình mẫu để phát triển hệ thống vũ khí chiến lược trên biển?

Báo chí phương Tây đã dành rất nhiều giấy mưc để bàn về vấn đề Trung Quốc lại chậm mở rộng kho vũ khí chiến lược của mình đến thế? Điều này được thể hiện ở số lượng những lần thử DF-31. Người ta biết rằng, Trung Quốc hiện có khoảng 20 tên lửa liên lục địa DF-5. Số lượng đạn hạt nhân không được cất giấu cùng với tên lửa. Bằng cách này, họ muốn chứng minh cho Mỹ thấy mình là những người yêu chuộng hoà bình và hoàn toàn không hề có ý định tranh giành ngôi vị với Mỹ.

Trung Quốc luôn tìm cách phủ nhận những thông tin trong bản báo cáo của Cơ quan tình báo Mỹ CIA về việc mở rộng và hiện đại hoá kho vũ khí chiến lược của mình. Để làm gì?

Có lẽ, họ đang trông chờ vào sự thành công của quá trình nghiên cứu chế tạo DF-31/DF-41 và JL-2. Họ đang làm việc này một cách hết sức cẩn trọng. Trong quyết định áp dụng vũ lực với Đài Loan, Trung Quốc cũng rất ít khi triển khai hệ thống vũ khí chiến lược của mình (nếu như tính đến khả năng kinh tế của Trung Quốc, thì việc này là không quá khó khăn để thực hiện).

(Nguồn :: Báo Đất Việt)